Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường

a. Sự cần thiết khách quan:

Bước vào thời kì quá độ, nền kinh tế do chế độ xã hội cũ để lại có nhiều thành phần kinh tế xã hội cũ mà quá trình cải taọ lại kéo dài trong suốt thời kì quá độ mà trong quá trình xây dựng phát triển xã hội mới xuất hiện nhiều thành phần kinh tế của xã hội mới. Bước vào thời kì quá độ điểm xuất phát về lực lượng sản xuất, về năng suất lao động là thấp và không đều nhau vì vậy phải có nhiều hình thức của quan hệ sản xuất cho phù hợp với tính chất và trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất.

Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó sản phẩm sản xuất ra để trao đổi, để bán trên thị trường. Do đó kinh tế hàng hoá phát triển đến trình độ cao đó là kinh tế thị trường. Trong kinh tế thị trường toàn bộ yếu tố đầu vào, đầu ra đều thông qua thị trường vì vậy giữa hàng hoá và kinh tế không đồng nhất, chúng khác nhau về trình độ phát triển và cơ bản có cùng nguồn gốc, bản chất. Cơ sở khách quan đó là:

– Do phân công lao động xã hội : phân công lao động xã hội là cơ sở chung của sản xuất hàng hoá và nó không mất đi mà ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá ngày càng phát triển giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế với nhau. Nhiều ngành nghề ra đời và phát triển, những ngành nghề cổ truyền được khôi phục và ngày càng phát triển. Phân công lao động ngày càng được thể hiện sự phát triển ở tính phong phú, đa dạng và chất lượng ngày càng cao của sản phẩm hàng hoá đưa ra trao đổi trên thị trường.

– Nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất như : sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp, sự tồn tại đó là do tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập mà chủ thể kinh tế độc lập có lợi ích kinh tế riêng và từ đó họ có thể thực hiện được quan hệ kinh tế giữa họ bằng quan hệ hàng hoá tiền tệ.

– Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể tuy cùng dựa trên chế độ công hữu nhưng giữa chúng có sự khác biệt, có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, có lợi ích riêng, có sự khác biệt về trình độ kĩ thuật công nghệ, trình độ tổ chức quản lý nên chi phí sản xuất và hiệu quả kinh tế cũng khác nhau.

– Quan hệ hàng hoá tiền tệ còn cần thiết trong quan hệ kinh tế đối ngoại và đặc biệt trong phân công lao động quốc tế đang phát triển. Mỗi một nước là một quốc gia riêng biệt , là chủ sở hữu đối với hàng hoá đưa ra trao đổi trên thị trường thế giới. Trao đổi theo nguyên tắc ngang giá. Quan hệ kinh tế hiện nay trên thế giới là quan hệ thị trường do vậy muốn hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng phải phát triển theo mô hình kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường là sự phát triển kế tiếp và biến đổi về chất so với nền kinh tế tự nhên trên cơ sở phân công lao động xã hội đã phát triển. Kinh tế hàng hoá là nền kinh tế hoạt độn theo quy luật sản xuất và trao đổi hàng hoá, sản xuâtsanr phẩm cho người khác tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán, trao đổi hàng tiền. Nếu sản xuất để tự tiêu dùng thì không phải là nền kinh tế thị trường, mà là nền kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc. Ngay cả khi sản xuất cho người khác tiêu dùng như phân phối sản phẩm dưới dạng hiện vật (hàng đổi hàng) cũng không gọi là kinh tế thị trường.

Vậy, kinh tế thị trường hình thành dựa trên sự phát triển của phân công lao động xã hội, của trao đổi giữa những người sản xuất với nhau. Đó là kiểu tổ chức kinh tế xã hội, trong đó quan hệ trao đổi giữa những người với người được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi hàng hoá giá trị.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận động theo những quy luật giá trị giữ vai trò chi phối và được biểu hiện bằng quan hệ cung cấp trên thị trường. Các vấn đề tổ chức sản xuất hàng hoá được giải quyết bằng quan hệ cung ứng hàng hoá, dịch vụ và nhu cầu tiêu dùng trên thị trường. Các quan hệ hàng hoá phát triển mở rộng, bao quát trên nhiều lĩnh vực, có ý nghĩa phổ biến đối với người sản xuất và tiêu dùng. Các hoạt động sản xuất, dịch vụ … được quyết định từ thị trường về giá, sản lượng, chất lượng vì động cơ lợi nhuận hóa tối đa.

b. Tác dụng của sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam

* Việt Nam phát triển theo kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là tất yếu.

Trong thời kì qua độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xẫ hội, kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường còn tồn tại là tất yếu. Về mặt kinh tế co thể coi đây là thời kì của nenè kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường còn nhiều xu hướng tự phát nhưng có sự điều tiết của nhà nước do Đảng cộng sản lãnh đạo theo hướng củng cố và phát triển chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa, kết hợp đúng đắn giữa kế hoạch và thị trường, kết hợp kế hoạch phát triển kinh tế với kế hoạch xã hội theo định hưỡn xã hội chủ nghĩa, giảm hẳn phần kế hoạch pháp lệnh và kế hoạch trực tiếp thay bằng kế hoạch định hướng, trong đó không chỉ chú ý đến những cân đối tổng hợp mà còn cả cân đối giá trị, nhằm giữ vững cân đối tổng thể, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của tất cả các thành phần kinh tế và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo

Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có những yếu tố khách quan yêu cầu và baỏ đảm cho sự thành công của nó. Đó là khu vực kinh tế xã hội chủ nghĩa làm nền tảng đã hình thành. Nhà nước nắm giữ những ngành, những lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế, chính quyền là của dân do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.

Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã có tiền lệ lịch sử chứ không phải là “hoàn toàn mới” hay “ chưa hề có” như một số tác giả đã quan niệm. Tiền lệ đó chính là chính sách kinh tế mới(NEP) do Lênin đề xướng đã được vận dụng vào thực tiễn ở Liên Xô trong những năm hai mươi. Nội dung cơ bản của chính sách đó là chuyển từ nền kinh tế mệnh lệnh, chỉ huy sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, biện pháp chủ yếu để đảm bảo thắng lợi của định hướng xã hội chủ nghĩa và ngăn chặn định hướng tư bản chủ nghĩa là sử dụng đúng đắn chủ nghĩa nhà nước dưới nền chuyên chính vô sản.

Qua những năm thực hiện đổi mới, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin vào đặc điểm và điều kiện thực tiễn của Việt Nam, Dảng ta đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, đưa đất nước đi lên chủ nghiã xã hội. Tuy trong quá trình thực hiện chúng ta đã không tránh khỏi một số khuyết điểm, lệch lạc, song về cơ bản chúng ta đã vượt qua một giai đoạn thử thách gay go và không những đã đứng vững mà cón vươn lên, đạt những thành tựu to lớn trên nhiều mặt.
Với những điều trình bày ở trên chúng ta co thể khẳng định rằng, chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là sự chuyển đổi hợp quy luật. Không thể coi đó là sự “từ bỏ lí tưởng” và “ngả sang chủ nghĩa tư bản”

* Tác dụng của phát triển kinh tế thị trường ở nước ta:

Kinh tế thị trường phản ánh trình độ văn minh của xã hội và là thành tựu của sự phát triển lực lưoựng sản xuất và quan hệ sản xuất ở trình độ cao.
Phát triển sản xuất hàng hoá kinh tế thị trường làm phá vỡ dần kinh tế tự nhiên và chuyển thành kinh tế hàng hoá và thúc đẩy dự tạo thành xã hội hoá kinh tế sản xuất.

Kinh tế hàng hoá tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động xã hội vì kinh tế thị trường có động lực của sự phát triển đó là lợi ích và cạnh tranh.

Kinh tế thị trường có tính năng động cao vì thế kinh tế hàng hoá kích thích tính năng động sáng tạo của các chủ thể kinh tế, kích thích nâng cao chất lượng cải tiến mẫu mã, tăng khối lượng hàng hoá và dịch vụ do đó thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển.
Thúc đẩy phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất vì thế mà phát huy được tiềm năng lợi thế của từng vùng có tác dụng mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài.

Phát triển kinh tế thị trường thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung sản xuất do đó tạo điều kiện ra đời của sản xuất lớn xã hội hoá cao đồng thời chọn lọc được những người sản xuất kinh doanh giỏi hình thành đội ngũ cán bộ hành nghề đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước.

Kinh tế thị trường sản xuất ra một khối lượng hàng hoá ngày càng nhiều để phục vụ xã hội
Cho phép khai thác tối đa các nguồn tài nguyên.

Thể hiện tinh thần dân chủ trong kinh tế, đảm bảo cho mọi người được tự do làm ăn trong khuôn khổ pháp luật.