Sự chuyển hoá của tiền thành tư bản như thế nào?

a.1) Công thức chung của tư bản

Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định. Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản. Tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiện nhất định, khi chúng được sử dụng để bóc lột lao động của người khác.

Tiền tệ được biểu hiện ở hai dạng. Tiền với tư cách là tiền và tiền với tư cách là tư bản, lúc đầu hai dạng này chỉ khác nhau về hình thức lưu thông. Khi tiền biểu hiện dưới dạng tiền tệ thì nó dùng để mua hàng hoá, nó là phương tiện giản đơn của lưu thông hàng hoá và vận động theo công thức hàng – tiền – hàng (H – T – H) đó là sự chuyển hoá của hàng hoá thành tiền tệ và tiền tệ lại chuyển thành hàng. Còn tiền ở dưới dạng tư bản thì vận động theo chuyển hoá ngược lại của hàng thành tiền. Mục đích của lưu thông hàng hoá giản đơn là mang lại giá trị sử dụng, còn mục đích của lưu thông tiền tệ với tư cách là tư bản không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, hơn nữa đó là giá trị tăng thêm. Số tiền thu lại của quá trình lưu thông tiền tệ là lớn hơn số tiền ban đầu, số tiền lớn hơn đó gọi là giá trị thặng dư. Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Công thức lưu thông của tiền tệ không còn là : (T – H – H) mà phải là (T – H – T), trong đó T = T + DT (T: là giá trị thặng dư, C.Mác gọi T – H – T là công thức chung của tư bản.

a.2)Mâu thuẫn chung của tư bản.

Khi đưa tiền vào lưu thông, số tiền trở về tay người chủ sau khi kết thúc quá trình lưu thông tăng thêm một giá trị là T. Vậy có phải do lưu thông đã làm tăng thêm lượng tiền đó hay không?

Theo các nhà kinh tế học tư sản thì giá trị tăng thêm đó là do lưu thông tạo ra. Điều này không có căn cứ.

Thật vậy, nếu hàng hoá trao đổi ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị còn tổng số giá trị cũng như phần thuộc về mỗi bên trao đổi thì trước sau cũng không thay đổi. Về mặt giá trị sử dụng hai bên cùng có lợi còn về mặt giá trị thì cả hai bên cùng không có lợi. Như vậy trao đổi ngang giá thì không ai thu được lợi từ lưu thông một lượng giá trị lớn đã bỏ ra. Còn trong trường hợp trao đổi không ngang giá, thì người bán có hàng bán với giá cao hơn giá trị. Khi người bán được lời từ việc bán hàng một lượng giá trị thì người mua phải mất đi cũng một lượng giá trị như vậy. Khi người mua phải mất đi cũng một lượng giá trị như vậy. Khi người bán hàng với giá cả thấp hơn giá trị thì người bán phải mất đi một lượng giá trị có ngược lại người mua sẽ được lợi một lượng như vậy. ở đây cũng hình thành nên giá trị thặng dư. Nhưng ta thấy giá trị thặng dư ở đây là do thương nhân mua rẻ bán đắt mà có, điều này có thể giải thích được sự làm giàu của một bộ phận thương nhân chứ không giải thích được sự làm giàu của cả một giai cấp tư bản. Vì tổng giá trị trước và sau trao đổi là không thay đổi. Theo C.Mác giai cấp các nhà tư bản là không làm giàu trên lưng của giai cấp mình.

Do đó dù khi trao đổi ngang giá hay không ngang giá thì cũng không tạo ra giá trị thặng dư. Lưu thông hàng hoá không tạo ra giá trị thặng dư.

Như vậy, liệu giá trị thặng dư có phát sinh ngoài lưu thông được không? Thực tế người sản xuất hàng hoá không thể biến tiền của mình thành tư bản nếu không tiếp xúc với lưu thông.

“Vậy tư bản không thể xuất hiện tư lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông”. Đó là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản. Từ đó ta có kết luận.

+ Phải lấy những quy luật nội tại của lưu thông hàng hoá làm cơ sở để giải thích sự chuyển hoá của tiền thành tư bản, tức là lấy việc trao đổi ngang giá làm điểm xuất phát.
+ Sự chuyển hoá người có thành nhà tư bản phải tiến hành trong phạm vi lưu thông và đồng thời lại không phải trong lưu thông.

a.3) Hàng hoá sức lao động.

Khi biến đổi giá trị của tiền cần chuyển hoá thành tư bản không thể xảy ra tại chính bản thân của số tiền ấy mà chỉ có thể xảy ra từ hàng hoá mua vào (T – H). Hàng hoá đó không thể nào là một loại hàng hoá thông thường mà nó phải là một thứ hàng hoá đặc biệt, mà giá sử dụng của nó có đặc tính sinh ra giá trị. Thứ hàng hoá đặc biệt đó chính là hàng hoá sức lao động mà các nhà tư bản tìm thấy nó trên thị trường.

* Điều kiện để biến sức lao động thành hàng hoá.

Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực trong cơ thể con người, thể lực là trí lực mà người đó đem ra vận dụng trong quá trình sản xuất ra một giá trị sử dụng.

Sức lao động là rất cần thiết, nó là điều kiện cần thiết để sản xuất. Sức lao động chỉ biến thành hàng hoá trong điều kiện lịch sử nhất định.

Một là, người lao động tự do về thân thể. Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường như một hàng hoá nếu nó do bản thân con người có sức lao động đưa ra bán.

Hai là, người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất, chỉ trong điều kiện ấy người lao động mới bán sức lao động của mình. Vì không còn cách nào khác để sinh sống.
Sự tồn tại của hai điều kiện trên có tính chất quyết định để sức lao động trở thành hàng hoá và khi sức lao động trở thành hàng hoá nó là điều kiện lịch sử nhất định.
Một là, người lao động tự do về thân thể. Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường như một hàng hoá nếu nó do bản thân con người có sức lao động đưa ra bán.
Hai là, người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất, chỉ trong điều kiện ấy người lao động mới bán sức lao động của mình, vì không còn cách nào khác để sinh sống.
Sự tồn tại của hai điều kiện trên có tính chất quyết định để sức lao động trở thành hàng hoá và khi sức lao động trở thành hàng hoá nó là điều kiện quyết định để tiền biến thành tư bản.

* Giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá – sức lao động.

Cũng như mọi hàng khác, hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính đó là: giá trị và giá trị sử dụng.
Về giá trị hàng hoá sức lao động: cũng như mọi hàng hoá khác nó được quy định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất mà ở đây nó được quy định bởi thời gian tái sản xuất ra sức lao động. Muốn tái sản xuất ra sức lao động người công nhân phải tiêu hao một lượng tư liệu sinh hoạt. Như vậy thời gian tái sản xuất sức lao động chính bằng thời gian sản xuất ra tư liệu sinh hoạt. Hay nói cách khác giá trị sức lao động bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt.

Giá trị tư liệu sinh hoạt của một người công nhân bao gồm có giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho bản thân người công nhân; phí tổn học việc của công nhân, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho gia đình người công nhân.
Về sử dụng hàng hoá sức lao động: Hàng hoá sức lao động không chỉ có giá trị mà còn có giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động chỉ thể hiện khi người công nhân lao động. Khi lao động tạo ra giá trị hàng hoá lớn hơn giá trị của sức lao động.