Sự hình thành và phát triển của kinh tế nhà nước

1. Sự hình thành và phát triển của kinh tế nhà nước

Nhà nước là một thiết chế quyền lực chính trị là cơ quan thống trị giai cấp của một nhóm giai cấp với các giai cấp khác, bảm điểm quyền lợi của giai cấp thống trị. Tuy nhiên lịch sử cách mạng công nghệ quản lý kinh tế của nhà nước luôn gắn liền với chức năng quản lý hành chính.
Chức năng cảu nhà nước được phôi thai ngay từ lúc ban đầu nhà nước xuất hiện

1.1. Trong giai đoạn tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản: (Học thuyết của các trường phái cổ điển, dân cổ điển).

Thời kỳ CNTT hướng (XV – XVII) vai trò quản lý kinh tế của nhà nước rất được coi trọng. Nhà nước tư sản đã thực hiện chính sách tiền tệ hết sức nghiêm ngặt, họ tìm mọi cách tích luỹ tiền tệ, không cho tiền chạy ra nước ngoài, nhà nước còn quy định những nơi được phép buôn bán. Trong chính sách ngoại thương họ dùng hàng rào, thuế quan bảo hộ, đánh thuế nhập khẩu cao và thuế xuất nhập khẩu thấp, quy định nghiêm ngặt tỉ giá hối đoái.
Thuyết của Adan Smith (726 – 1790) “ Thuyết bàn tay vô hình” lại cho rằng hoạt động của toàn bộ nền kinh tế là do các quy luật khách quan tự chi phối, và đưa ra nguyên lý “Nhà nước không can thiếp” vào hoạt động kinh tế nhưng ông không chống lại vai trò kinh tế nhà nước mà chỉ chống lại sự can thiệp sai trái của nhà nước mà thôi.
Thuyết cân bằng tổng quát “ của Leon Wleas lời khuyên nghị nhà nước cần can thiệp vào quá trình sản xuất, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh, hạn chế đầu cơ, ổn định giá phù hợp với tiền lương.

1.2. Trong giai đoạn của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.

Học thuyết “bàn tay hữu hình của J. M. KeYneS: đánh giá cao vai trò của KTNN; các chính sách KTNN tới nền KTTT.
Quan điểm của CN Mác – Lênin về KTNN.
+ Cơ chế thịi trường là cơ chế tốt nhất điều tiết nền kinh tế hàng hoá một cách có hiệu quả, tuy nhiên có nhiên khuyết tật vì vậy cần có sự quản lý của nhà nước.
* Từ các sự phân tích trên cho phép rút ra kết luận.
Tất cả các nhà nước đã và đang tồn tại không có nhà nước nào phi kinh tế, đứng bên ngoài hay bên trên nền kinh tế. Sự ra đời của nhà nước bao giờ cũng có nguồn gốc từ nguyên nhân kinh tế. Bất kỳ với hoạt động của nhà nước hoặc kìm hãm hoặc thúc đẩy kinh tế.
Mỗi thể chế kinh tế đòi hỏi một tổ chức nhà nước riêng phù hợp với yêu cầu của nó.
Nhà nước phải tổ chức bộ máy hoàn thiện chức năng nhiệm vụ của mình với sự vận động kiến đối của nền kinh tế.

1.3. Thành phần KTNN

Khu vực KTNN là một khái niệm tương đối.
Nếu xét về khía cdạnh hình thức tổ chức thì khu vực KTNN bao gồm.
+ Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh và các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích.
+ Các doanh nghiệp có cổ phần nhà nước chi phối hoặc cổ phần đặc biệt của nhà nước (theo quy định của luật doanh nghiệp nhà nước.
+ Các doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước.
+ Các tổ chức sự nghiệp kinh tế của nhà nước.
Nếu xét về khía cạnh của lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế, thì khu vực kinh tế nhà nước bao gồm các hoạt động của nhà nước trong việc:
+ Quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên tự nhiên.
+ Đầu tư, quản lý và khai thác các công trình hạ tầng kỹ thaụat (đường sá, bến, bãi cdảng, các khu công nghiệp tập trung v.v…).
+ Các tổ chức kinh tế hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ; trong lĩnh vữ tài chính, tín dụng, ngân hàng v.v…

2. Sự hình thành và phát triển kinh tế nhà nước ở Việt Nam.

Ở Việt Nam mục tiêu độc lâp dân tộc bồn liền với chủ nghĩa xã hội trong g ần thế kỷ qua đã trở thành động lực thôi thúc giành độc lập và xây dựng một cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho nhân dân.

Dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu chúng ta hoàn toàn khả năng xây dựng một đội ngũ cán bộ quản lý và lao động trong các doanh nghiệp nhà nước có lý đảng cộng sản sâu sắc) làm giàu không chỉ cho bản than mà còn phải làm giàu cho đất nước.
Sự ra đời kinh tế nhà nước ở Việt Nam thể hiện qua các bước: Quốc cữi hoá xã hội chủ nghĩa, cải tạo xã hội cũ và đầu tư xây dựng mới xã hội chủ nghĩa.
Mô hình kinh tế chỉ huy: KTNN bao trủm lên tất cả các lĩnh vực KINH Tế.
Mô hình KT thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đa dạng hoá sở hữ tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trng đó KTNN giữ vai trò chủ đạo

2.2.Thực trạng doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.

Vấn đề hiệu quả của DNNN là đặc biệt quan trọng, vì đã là doanh nghiệp kinh doanh đương nhiên phải có hiệu quả thì mới tồn tại, phát triển. Veịec xem xét, đánh giá hiệu quả của DNNN cần có quan điểm toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội; trong đó, lấy suất sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp kinh doanh, lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích.

Trên thực tế, những hoài ngi, thiếu niềm tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên vào hiệu quả của DNNN cũng không phải là không có căn cứ nhất định. Thực tế cho thấy, các DNNN của chúng ta bên cạnh những thành tựu to lớn đã và đang bộc lộ những yếu kém khá nghiêm trọng.
Quy mô các DNNN còn nỏ (vốn bình quân chỉ là 12 tỉ đồng), cơ cấu có nihều bất hợp lý, công nghệ lạc hậu, quản lý yếu kém, chưa thật sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất thấy ngoài một số doanh nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại hoặc trung bình của thế giới từ 10 đến 20 năm, thậm cí 30 năm. Đến tháng 5/2001 mới chỉ có 4,1% tổng số DNNN được chứng nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Kết quả sản xuất kinh doanh của các DNNN cũng chưa tương xứng với các nguồn lực đã có và sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước: Trong 4 năm (1997 -2000) ngân sách nhà nước đã đầu tư thêm cho DNNN gần 82000 tỉ đồng; ngoài ra, miễn giảm thuế 1351 tỉ đồng, xoá nợ 1.088 tỉ đồng, khoang nợ 3392 tỉ đồng, giãn nợ 540 tỉ đồng, giảm tính khấu hao 200 tỉ đồng và cho vay ưu đãi đầu tư 9000 tỉ đồng. Đến năm 2000, số DNNN kinh doanh có hiệu quả mới chỉ là 40%, bị lỗ liên tục chiếm tới 29%.

Tình hình đúng như vậy, nhưng từ đó để đi đến khẳng định chỉ có các DNTN mới có lãi và DNNN chỉ có thua lỗ, kém hiệu quả là hoàn toàn không đúng. Nhận định này thiếu cả cơ sở lý luận và thực tiễn, coi một số hiện tượng trùng với bản chất, bởi nếu đi sâu nghiên cứu chúng ta cũng dễ thấy không chỉ DNNN mới thua lỗ, mà cũng có nhiều DNTN thua lỗ. Khủng hoảng kinh tế – tài chính khu vực với những hậu quả nặng nề về kinh tế, chính trị, xã hội có thể được coi là khủng hoảng của kinh tế tư nhân. Thực tế ở thành phố Hải Phòng (cũng như ở nhiều địa phương khác) cho thấy, tỷ lệ nợ quá hạn của các khoản vay tín dụng ngân hàng của DNTN (vào khoảng 36% tính đến tháng 6/2001), cao gấp đôi so với DNNN, trong đó phần lớn là nợ khó có khả năng thanh toán. Trong tổng số DNNN có tới 70% là hoạt động có lãi và khi lãi khi lỗ; số DNNN thua lỗ tuy còn nhiều song chỉ là thiểu số.

Như vậy, thua lỗ, hiệu quả thấp là đồng hành của cả DNNN và DNTN, không có sự phân biệt chủ sở hữu. Thực tế ở nước ta cho thấy, sự thua lỗ hiệu quả kinh tế thấp của một bộ phận đáng kể DNNN và DNTN có nhiều nguyên nhân không có liên quan đến sở hữu doanh nghiệp, trong đó có nguyên nhân rất cơ bản là điều kiện sản xuất kinh doanh cua nước ta nhiều khó khăn, biến động rủi ro lớn, các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế yếu kém, nhất là về trình độ quản lý, kinh nghiệm thương trườn