Sự hình thành và phát triển của pháp luật quốc tịch Việt Nam

 

1.     Giai đoạn trước năm 1975.

Sau Cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ đứng  trước nhiệm vụ cấp thiết phải xoá bỏ hệ thống pháp luật thực dân phong kiến và nhanh chóng xây dựng hệ thống pháp luật mới để quản lí đất nước, giữ vững độc lập dân tộc, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã khẩn trương ban hành những văn bản pháp luật mới, trong đó có những văn bản pháp luật về quốc tịch.

Trước năm 1975, do đặc điểm nước ta bị chia cắt hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau nên các VBPL về quốc tịch Việt Nam chỉ có hiệu lực áp dụng ở miền Bắc. Pháp luật quốc tịch Việt Nam trước 1975 đã thể hiện rõ chủ quyền của quốc gia đối với dân cư, quan điểm của nhà nước về các vấn đề cơ bản liên quan đến quốc tịch như: nguyên tắc một quốc tịch, đảm bảo quyền có quốc tịch của cá nhân trên lãnh thổ việt Nam…tạo cơ sở pháp lý giải quyết các vấn đề đặt ra trên thực tế đơn giản và thuận tiện. Pháp luật Việt Nam về quốc tịch đã phục vụ đắc lực cho công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, góp phần khẳng định vị thế của Nhà nước Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, vì được ban hành đơn lẻ, giá trị pháp lý thấp nên pháp luật về quốc tịch giai đoạn này chưa giải quyết được toàn diện những vấn đề về quốc tịch Việt Nam như trong quy định Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959.

2.     Giai đoạn sau năm 1975.

a. Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1988.

Ngày 28/6/1988, Quốc hội khoá 8 kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam, quy định một cách khá toàn diện các vấn đề về quốc tịch Việt Nam, đã đáp ứng những nhu cầu chính trị và pháp lý về quốc tịch trong giai đoạn mới của đất nước, góp phần đắc lực phục vụ cho chính sách đối nội và đối ngoại của Nhà nước ta, tăng cường mối liên hệ gắn bó giữa Nhà nước với nhân dân, kể cả công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; cùng với các Đạo luật khác đã tạo cơ sở pháp lý để điều chỉnh các quan hệ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

b. Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998.

Ngày 20/5/1998, Quốc hội khoá 10 kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật Quốc tịch mới (Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999). Đây được coi là bước tiến trong việc hoàn thiện pháp luật về quốc tịch. Sau 9 năm thực hiện, ngày 15/02/2008, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị tổng kết thực hiện Luật Quốc tịch năm 1998, đánh giá những mặt tích cực, chỉ ra những hạn chế cần phải khắc phục như: Việc ghi nhận nguyên tắc một quốc tịch còn cứng nhắc; điều kiện nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam chưa thực sự phù hợp với tình hình mới; thủ tục tiếp nhận và giải quyết các vấn đề về quốc tịch còn rườm rà; công tác quản lý Nhà nước về quốc tịch còn lỏng lẻo, chưa sát với thực tiễn(1).

(1): xem Bộ Tư pháp, Báo cáo tổng kết 9 năm thực hiện Luật Quốc tịch Việt Nam 1998, Hà Nội ngày 18/02/2008.