Sự hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam khi chuyển sang nền kinh tế thị trường

Khi chuyển sang từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp của nước ta, ở đây chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước gặp rất nhiều khó khăn vì khi chuyển đổi từ hình thái kinh tế này rằng hình thái kinh tế khác, các doanh nghiệp chưa bắt kịp cơ chế mới.

Nhưng bên cạnh những khó khăn đó thì các doanh nghiệp của chúng ta có những thuận lợi lớn để phát triển cả về quy mô sản xuất lẫn chất lượng của hàng hoá. Trong giai đoạn này các doanh nghiệp có cơ chế quản lý hợp lý năng động, sáng tạo sẽ gặp rất nhiều thuận lợi trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Các doanh nghiệp này sẽ có thế mạnh, trong việc chiếm lĩnh thị trường.

Khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý theo định hướng XHCN. Chúng ta đã chuyển toàn bộ mô hình quản lý cũ, một hình thức quản lý quan liêu bao cấp sang một cơ chế quản lý mới, một cơ chế quản lý năng động, sáng tạo đáp ứng được sự biến động không ngừng của thị trường cũng như của xã hội.

Vấn đề đối với các doanh nghiệp của chúng ta bây giờ là làm sao để sản xuất kinh doanh tốt để có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội, để có thế cạnh tranh tốt với hàng hoá của các doanh nghiệp khác mà đặc biệt là lượng hàng hoá nước ngoài tràn ngập thị trường của chúng ta, vấn đề vốn với các doanh nghiệp của nước ta là một vấn đề nan giải.

a. Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Khi chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế mới, chúng ta thấy xuất hiện thêm nhiều thành phần kinh tế. Trước kia thành phần kinh tế nhà nước chiếm vai trò chủ đạo quan trọng trong nền kinh tế thì bây giờ các doanh nghiệp nhà nước không còn giữ được vai trò chủ đạo ấy nữa, các thành phần kinh tế tư nhân, liên doanh có xu hướng phát triển mạnh mẽ. Nhưng ta thấy nhà nước vẫn xác định chuyển đổi nền kinh tế vẫn giữ thành phần kinh tế nhà nước là chủ đạo.

* Các doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế mới.

Doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây chỉ là cơ cấu chấp hành – nhận vốn, vật tư chỉ thị, mệnh lệnh sản xuất từ cấp trên và giao nộp sản phẩm, hàng hoá làm ra cho cấp trên.
Ngày nay trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Doanh nghiệp nhà nước là một chủ thể sản xuất kinh doanh. Nó phải lựa chọn, phải tự mình quyết định sản xuất cái gì? cho ai? sản xuất như thế nào? và phân phối kết quả do sản xuất đem lại sau khi đã làm tròn nghĩa vụ với nhà nước.

Trong khi chuyển sang cơ chế kinh tế mới, nhà nước vẫn xác định thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Để phát huy vai trò của doanh nghiệp nhà nước đối với các thành phần kinh tế, nhiều doanh nghiệp nhà nước đã nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trên cơ sở đổi mới và vươn lên không ngừng.

Các doanh nghiệp nhà nước giữ một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Các doanh nghiệp nhà nước được phép sản xuất các mặt hàng mà nhà nước không cho phép các thành phần kinh tế khác được sản xuất: sắt thép, xi măng, dầu lửa, các mặt hàng quân dụng… Trước kia các doanh nghiệp nhà nước chỉ sản xuất kinh doanh với nghĩa vụ nhà nước, lỗ thì nhà nước chịu, lãi nhà nước thu vì vậy, không có một động lực cho công nhân viên chức ham lao động khi chuyển sang cơ chế mới các doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm trước kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình cho nên các doanh nghiệp không ngừng đổi mới quản lý, đổi mới công nghệ ứng dụng kỹ thuật tiên tiến của thế giới để giảm sức lao động tăng năng suất lao động, giúp cho hàng hoá có chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh với các mặt hàng khác. Các doanh nghiệp của ta đang chuyển đổi dần cơ cấu quản lý sản xuất mới, đó là cổ phần hoá doanh nghiệp quốc doanh. Đảng và Nhà nước thấy cần thiết phải cổ phần hoá các doanh nghiệp nên đã ra quyết định cho phép các doanh nghiệp đủ điều kiện có thể cổ phần hoá. Mặc dù tiến độ cổ phần hoá của chúng ta rất chậm chạp nhưng xét về lâu dài đó là một điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển mạnh cả về quy mô lẫn chất lượng. Khi tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước có nghĩa là chúng ta phải rút bớt sự quản lý trực tiếp của nhà nước đối với các doanh nghiệp, chúng ta đã để cho chính công nhân lao động tham gia góp vốn cổ đông tự điều hành quản lý. Khi người lao động tự quyết định chính lợi ích của mình thì họ sẽ có trách nhiệm hơn, hiệu quả sản xuất được tăng hơn.

Bên cạnh sự nỗ lực của nhà nước nhằm tăng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thì chúng ta vẫn cần thấy một bộ phận những người lãnh đạo các doanh nghiệp quan liêu bao cấp làm cho các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả. Thực tế cho thấy một số doanh nghiệp chỉ tồn tại trên danh nghĩa còn sự hoạt động của nó là không, một số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ gây thiệt hại chio chính phủ hàng chục tỉ đồng.

* Các thành phần kinh tế khác.

Khi chuyển đổi cơ chế hoạt động, nhà nước vẫn luôn chú trọng và phát huy vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp quốc doanh. Nhưng bên cạnh đó nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế khác phát triển nhằm làm cho nền kinh tế phát triển. Khi khuyến khích các thành phần kinh tế tư nhân, tiểu chủ… phát triển là nhà nước đã phát huy được hết nội lực của mình. Qua sự hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân, liên doanh nó có thể bù đắp những thiếu sót của các doanh nghiệp nhà nước.

Hiện nay ở nhà nước ta tình hình hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân rất phát triển. Mặc dù quy mô hoạt động của nó nhỏ nhưng nó lại đem lại một phần rất lớn cho nguồn thu ngân sách. Các doanh nghiệp tư nhân chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực sản xuât thủ công, tiểu thủ công, và công nghiệp nhẹ, đây là các thành phần kinh tế đóng góp không nhỏ cho ngân sách nhà nước.

Các doanh nghiệp tư nhân có thể đứng vững trên thị trường. Một số doanh nghiệp còn đại diện cho doanh nghiệp nhà nước cạnh tranh với các hãng sản xuất của nước ngoài giúp phần đem lại lợi nhuận cho nhà nước. Các doanh nghiệp tư nhân chủ yếu được hình thành từ việc một vài người góp vốn làm ăn kinh doanh nên thấy sự quản lý hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân rất hiệu quả. Nhà nước ngoài việc khuyến khích các doanh nghiệp trong nước phát triển còn khuyến khích doanh nghiệp liên doanh với các công ty nước ngoài, thông qua đó sẽ đem lại lợi ích lớn cho cả hai bên. Nhà nước ta xây dựng rất nhiều khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng phục vụ nhằm thu hút các công ty, doanh nghiệp nước ngoài vào liên doanh, đầu tư tại Việt Nam thông qua đó nhà nước ta sẽ thu hút được vốn và kỹ thuật của nước ngoài vào phục vụ trong nước. Nhưng ta thấy các khu công nghiệp, khu chế suất hiện nay hoạt động kém hiệu quả, ít công ty nước ngoài đăng ký, đây chính là một phần nguyên nhân của chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của chúng ta.

Hiện nay ta thấy một số doanh nghiệp tư nhân hoạt động hiệu quả hơn các doanh nghiệp nhà nước. Quan tâm phát triển doanh nghiệp tư nhân là rất cần thiết ngoài việc nó đem lại cho chúng ta lợi ích về kinh tế nó góp phần giải quyết cho chúng ta một số lượng lớn người thất nghiệp.
Bên cạnh cái lợi mà các doanh nghiệp tư nhân, liên doanh nó đem lại cho nền kinh tế của chúng ta thì nó cũng đem lại cho chúng ta rất nhiều điều rắc rối: các công ty ma chuyên lừa đảo, các công ty trông tránh sự quản lý của các cơ quan chức năng… Chính các doanh nghiệp như thế sẽ gây ảnh hưởng làm mất lòng tin đối với người dân, đối với nhà đầu tư.
Những thành quả từ khi đổi mới có được, là do chúng ta đổi mới cách quản lý, do các doanh nghiệp của chúng ta đã thực hiện tốt các vấn đề sau:

– Giải quyết tốt mối quan hệ giữa thị trường – đổi mới công nghệ vốn trong quá trình đổi mới công nghệ.
Đổi mới công nghệ là một đòi hỏi khách quan đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào vì có đổi mới công nghệ mới nâng cao được chất lượng hạ thấp chi phí, nâng cao năng suất lao động, tăng sản lượng, giải quyết tốt khó khăn trong sản xuất, tạo ra sản phẩm mới. Do đó mới tăng được sức cạnh tranh trên thị trường. Để thành công trong vấn đề đổi mới công nghệ, các doanh nghiệp phải giải quyết ba vấn đề có quan hệ hữu cơ, ràng buộc lẫn nhau, tạo thành thế kiềng ba chân, là thị trường – đổi mới công nghệ – vốn (trong đó thị trường là khâu đột phá).

Đổi mới công nghệ phải gắn liền với đổi mới sản phẩm, mà sản phẩm là sản phẩm thị trường có nhu cầu và doanh nghiệp có khả năng đáp ứng. Từ yêu cầu về số lượng chất lượng, giá cả sản phẩm mà lựa chọn công nghệ thích hợp. Sau khi đã có thị trường, lựa chọn được công nghệ thích hợp thì giải pháp tạo vốn giữ vị trí cực kỳ quan trọng. Tuỳ điều kiện thực tại của mỗi doanh nghiệp mà có hình thức và biện pháp tạo vốn thích hợp. Liên doanh toàn phần hoặc từng phần để có vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến. Vay vốn ngân hàng để mua máy móc, trang thiết bị phục vụ sản xuất…

– Chuyển hướng kinh doanh và lựa chọn mặt hàng thích hợp với nhu cầu thị trường.
Thị trường biến đổi sôi động, sản xuất phát triển không ngừng đời sống dân cư được nâng lên buộc các doanh nghiệp phải vật lộn với thị trường, phải thay đổi nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh.

Trong sự thay đổi đó doanh nghiệp nào nắm bắt được thị trường khai thác tốt nguồn lực hiện có để áp dụng thì doanh nghiệp đó tồn tại, phát triển và chiến thắng trong cạnh tranh.

Các doanh nghiệp phát triển tốt trong mấy năm qua là các doanh nghiệp đã nghiên cứu kỹ nhu cầu thị trường từ đó đưa ra các phương án sản xuất – kinh doanh phù hợp. Tuy điều kiện cụ thể, các doanh nghiệp có sự thay đổi khác nhau.

+ Chuyển hướng mặt hàng. giảm dần hoặc loại trừ mặt hàng truyền thống chuyển sang sản xuất mặt hàng mới thị trường có nhu cầu.
+ Đa dạng hoá sản phẩm và đa dạng hoá kinh doanh là xu thế diễn ra khá phổ biến ở các doanh nghiệp thành đạt. Sự đa dạng hoá được thực hiện theo các hướng: Một là nâng tỷ trọng và chất lượng mặt hàng truyền thống kết hợp với đa dạng hoá sản phẩm. Hai là, đa dạng hoá kinh doanh. Ba là đa dạng hoá sản phẩm theo hướng mở rộng các mặt hàng có cùng công nghệ, cùng sử dụng nguyên liệu để tận dụng tốt năng lực máy móc thiết bị nguyên liệu hoặc công nghệ khác để tận dụng lao động nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

– Đảm bảo nâng cao chất lượng và quản lý chất lượng.
Khi chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, định hướng XHCN các doanh nghiệp phải quan tâm đến đảm bảo và nâng cao chất lượng. Điều này càng trở lên cấp bách khi Việt Nam ra nhập AFTA và tiến tới ra nhập APEC, WTO. Các doanh nghiệp cần thiết phải coi trọng quản lý chất lượng và phải quản lý chất lượng theo quan điểm hiện đại (Quản lý chất lượng đồng bộ TQM và thực hiện ISO 9000).
Kinh nghiệm của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả là:

+ Không ngừng nâng cao chất lượng và dịch vụ. Đây là vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
+ Coi trọng quản lý chất lượng thực chất là quản lý sản xuất kinh doanh có chất lượng. Do vậy nó xuyên suốt và bao quát các mặt quản lý của doanh nghiệp.
+ áp dụng hệ thống tiêu chuẩn ISO 9000 đối với các doanh nghiệp có hàng xuất khẩu.
+ áp dụng các biện pháp đồng bộ để đảm bảo và nâng cao chất lượng, đặc biệt coi trọng các biện pháp: Đổi mới công nghệ là trọng điểm và đồng bộ để nâng cao trình độ công nghệ và trình độ sản phẩm, đối với Việt Nam hiện nay khi trình độ công nghệ còn thua kém thế giới 2 – 3 thế hệ thì đổi mới công nghệ được coi là nền tảng là khâu đột phá của đảm bảo và nâng cao chất lượng. Hai là trên cơ sở đổi mới công nghệ chúng ta phải chú ý đến các biện pháp khác rất quan trọng liên quan trực tiếp tới đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ như: xây dựng các chính sách chất lượng.

Khuyến khích vật chất với đảm bảo nâng cao chất lượng…

– Tạo động lực phát triển và nâng cao hiệu quả snả xuất – kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong những năm qua các doanh nghiệp đã có sự đổi mới khá căn bản bộ máy tổ chức quản lý theo hướng gọn, nhẹ và động lực cho phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Một số doanh nghiệp giá nhập tổng công ty nhằm thúc đẩy phân công, hợp tác sản xuất, thúc đẩy quá trình tập trung hoá sản xuất và tăng khả năng cạnh tranh của ngành và các doanh nghiệp thành viên. Mặt khác vẫn thực hiện sự phân cấp hợp lý giữa tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên theo hướng phát huy quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp thành viên có trách nhiệm tự đảm bảo vốn kinh doanh, chủ động trong sản xuất và kinh doanh và toàn quyền phân phối kết quả của mình làm ra sau kỳ đã thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước. Điều đó tạo động lực cho các doanh nghiệp. Để tồn tại lâu dài, các chủ doanh nghiệp tư nhân phải có các chiến lược, thành quả cũng như hậu quả đều thuộc về họ. Vì vậy yên tâm đầu tư là những hướng tới tương lai. Các doanh nghiệp nhà nước thì khác mỗi lần một người lãnh đạo chỉ nhìn lợi ích trước mắt trong thời gian lãnh đạo cho nên đến khi người khác lên thay lại phải thực hiện lại. Họ không chú ý đến xây dựng chiến lược lâu dài.

b. Vấn đề về vốn của doanh nghiệp nước ta hiện nay.

Một doanh nghiệp muốn sản xuất kinh doanh được thì phải có vốn. Trong nền kinh tế thị trường vẫn tồn tại ở nhiều dạng: tài sản, tiền, sức lao động… Có rất nhiều nguồn vốn khác nhau: Vốn do ngân sách nhà nước cấp, vốn vay, vốn tự có, vốn cổ phần, vốn liên doanh liên kết, vốn do nước ngoài tài trợ… Từ các nguồn vốn này các doanh nghiệp phải tìm một giải pháp, một nguồn vốn sao cho hợp lý để đưa vào kinh doanh sản xuất. Đối với các doanh nghiệp quốc doanh hay gọi là các doanh nghiệp nhà nước nguồn vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp là ngân sách nhà nước. Nhà nước trực tiếp bỏ ngân sách của mình ra cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, hàng năm nhà nước thu về một lượng nào đó, hiện nay là 6% đối với số tiền nhà nước bỏ ra. ở đây khoản này ta gọi là khoản thu có sử dụng vốn của nhà nước, trước đây ta thấy có một hiện tượng nhà nước bỏ vốn cho các doanh nghiệp kinh doanh, khi lỗ nhà nước lại phải chịu bù đắp 100% nhưng bây giờ nhà nước chỉ bù đắp một phần nào đó. Ngoài ra hiện nay nhà nước cổ phần hoá, liên doanh toàn phần và từng phần với nước ngoài để có vốn đầu tư sản xuất kinh doanh. Còn đối với các doanh nghiệp tư nhân nguồn vốn chủ yếu là do chủ tư nhân tự có, hoặc do đóng góp. Song bên cạnh đó các doanh nghiệp này huy động vốn từ nước ngoài, từ cổ đông của công ty hoặc là liên doanh liên kết vốn vay ngân hàng.

Đối với các doanh nghiệp cả quốc doanh lẫn tư nhân trong cơ chế thị trường, nguồn vốn vay ngân hàng là một phần trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Nhà nước có nhiều ưu đãi khi đề ra các mức lãi suất khác nhau khi vay ngân hàng cho các doanh nghiệp sản xuất. Nhưng tình hình thực tế hiện nay cho thấy rằng các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh chưa có hiệu quả, chưa đủ sức cạnh tranh và thích nghi với cơ chế thị trường, ngày càng kéo dài, kể cả nợ ngân sách, nợ chiếm dụng vốn lẫn nhau phổ biến.

Từ kinh doanh thua lỗ, nợ nần dây dưa khó đòi dẫn đến khả năng tự tích luỹ của doanh nghiệp rất hạn chế, tái đầu tư đổi mới thiết bị thấp, chất lượng sản phẩm kém nên gặp khó khăn trong tiêu thụ và cạnh tranh sản phẩm trên thị trường. Điều này nói nên tình hình tài chính của các các doanh nghiệp là không lành mạnh. Mặt khác việc cấp tín dụng cho vay đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, vấn đề này xuất phát từ việc ngân hàng chưa tìm ra một hệ thống các kỹ thuật cho vay thích hợp với các doanh nghiệp.
Một số nguyên tắc để ngân hàng cấp tín dụng cho các doanh nghiệp là sự tín nhiệm của ngân hàng đối với doanh nghiệp đó, ở sự tin tưởng sẽ thu hồi lại được vốn và lãi đúng hạn. Tuy nhiên để đánh giá một doanh nghiệp có đủ tín nhiệm hay không còn phụ thuộc vào việc ngân hàng thu nhập được lượng thông tin về hoạt động của doanh nghiệp. Hiện nay một thực trạng cần được khắc phục ở hầu hết các ngân hàng là thông tin về khách hàng thiếu đầy đủ làm cho các doanh nghiệp có tình hình tài chính tồi tệ cũng được cấp phép cho vay. Gây ra tình trạng ngân hàng không thu hồi lại được vốn.

Các ngân hàng là trung tâm tiền tệ, là nơi trung gian để người thừa vốn đến gửi và những người thiếu vốn đến vay. Đây là một nguồn vốn rất đáng quý cho các doanh nghiệp của chúng ta hiện nay. Nhưng ta thấy trong hệ thống ngân hàng còn có nhiều bất cập: quá cửa quyền, thiếu trách nhiệm nên gây ra không ít hiệu quả nặng nề mà nhà nước là người hứng chịu.

Mấy năm gần đây hệ thống ngân hàng có nhiều đổi mới vấn đề vay tín dụng có dễ dàng hơn nếu có đầy đủ giấy phép hợp lệ. Tạo ra cho các doanh nghiệp nhiều cơ hội trong sản xuất kinh doanh.

Cổ phần hoá doanh nghiệp là vấn đề huy động vốn rất hợp lý hiện nay. Khi ta cổ phần hoá doanh nghiệp chúng ta huy động được nguồn vốn trong dân cư mà vẫn duy trì sự chi phối của nhà nước ở mức độ cần thiết.

Hiện nay chúng ta đã có thị trường chứng khoán, thông qua thị trường chứng khoán này chúng ta có một điều kiện rất thuận lợi để mua bán, những loại hàng hoá đặc biệt – đó là chứng khoán. Chứng khoán hiện nay rất đa dạng: cổ phiếu thông thường, cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu chính phủ, trái phiếu đô thị, trái phiếu công ty. Thị trường chứng khoán là phương thức tài trợ trực tiếp (gửi tiết kiệm vào các định chế tài chinhs là tài trợ gián tiếp) để người có vốn đầu tư thẳng cho người có nhu cầu. Nhờ có thị trường chứng khoán các doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu trái phiếu dễ dàng, khi cần tăng vốn hoặc cần vốn thời gian dài đề đổi các máy móc thiết bị. Thông qua giá cả chứng khoán của mình trên thị trường sẽ giúp doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hơn, giá trị doanh nghiệp được định giá liên tục. Doanh nghiệp sẽ cung cấp chứng khoán cho thị trường chứng khoán và thị trường cung cấp vốn dài hạn cho doanh nghiệp. Một vấn đề khác đối với doanh nghiệp là phải nâng cao quản lý đầu tư, khai thác đầu tư hiện có và hiệu quả trong đầu tư.

Ngoài các nguồn vốn ở trên các doanh nghiệp của chúng ta có một phương thức tạo vốn mới đó là phát hành trái phiếu của công ty. Đây là một khoản vay nhưng là vay của công chúng, nguồn vốn này có đặc điểm là phí tổn nợ vay có giới hạn (lợi tức trái phiếu thường thấp), cổ đông không bị chia quyền, nợ vay được xem như chi phí trừ thuế (giống như vay ngân hàng). Tuy nhiên lợi tức trái phiếu cũng là một định phí (lỗ cùng phải trả cho trái chủ), có thời hạn do công ty phải dự trù nguồn vốn để hoàn trả. Tại Việt Nam nguồn vốn này chưa thấy xuất hiện rộng rãi (trừ vài công ty làm thí điểm).

Các doanh nghiệp của tư hiện nay có một hình thức tạo vốn và kỹ thuật khác là chúng ta liên doanh với các công ty nước ngoài. ở đây chúng ta liên doanh toàn phần từng phần. Liên doanh toàn phần là 100% vốn của nước ngoài, liên doanh từng phần là nước ngoài góp một khoản chúng ta góp một khoản. Khoản chúng ta góp hiện nay chủ yếu là đất đai sử dụng.
Cách tạo vốn đầu tư này có rất nhiều cái lợi, nhưng nó cũng có cái hại. Chúng ta nói đến cái lợi là: người nước ngoài đem vốn vào đầu tư để phát triển kinh tế ở Việt Nam làm cho kinh tế của ta phát triển bên cạnh đó người ta cũng đem vào nước ta các tiến bộ kỹ thuật.

Nguồn vốn của các doanh nghiệp có được còn từ một nguồn khác nữa là các doanh nghiệp nhận được từ quỹ hỗ trợ phát triển của liên hợp quốc, của các tổ chức khác…
Tóm lại, nguồn vốn của các doanh nghiệp có từ nhiều hướng khác nhau. Vấn đề hiện nay là các doanh nghiệp phải quản lý như thế nào để sản xuất kinh doanh tốt dựa trên nguồn vốn ấy.