Sự phát triển của hệ thống thương mại thế giới

Nhiều lập luận kinh tế ủng hộ mạnh mẽ hệ thống thương mại tự do. Tuy nhiên, cho dù chính phủ nhiều nước đều nhận thấy giá trị của luận cứ này nhưng họ lại không muốn đơn phương giảm bớt các rào cản thương mại vì sợ rằng các nước khác có thể không thực hiện những điều tương tự. Trên thực tế, tình huống trên đã xảy ra trong quan hệ thương mại giữa hai nước láng giềng là Bra-xin và Ác-hen-ti-na. Bản chất của vấn đề chính là do thiếu lòng tin của các bên. Sự bế tắc trên có thể được giải quyết nếu như cả hai nước tiến hành đàm phán về các nguyên tắc kiểm soát thương mại qua biên giới cũng như việc cắt giảm hàng rào bảo hộ giữa hai nước. Nhưng liệu ai sẽ là người giám sát các chính phủ để đảm bảo rằng họ tuân thủ theo đúng các nguyên tắc thương mại? Và ai sẽ là người áp đặt lệnh cấm vận lên chính phủ vi phạm? Cả hai chính phủ có thể thiết lập một cơ quan giám sát độc lập hoạt động với tư cách của một trọng tài. Cơ quan trọng tài này có thể giám sát thương mại giữa hai nước, đảm bảo rằng không bên nào đánh lừa bên kia và sẽ áp đặt lệnh trừng phạt/cấm vận lên quốc gia nào vi phạm luật chơi.

Trong lúc dường như không một chính phủ nào muốn thỏa hiệp về chủ quyền quốc gia theo một thỏa thuận như vậy, kể từ Thế chiến II một định chế thương mại quốc tế đã ra đời và phát triển mang những đặc tính như đã kể trên. Trong vòng 50 năm đầu tiên, định chế này được biết dưới tên Hiệp định chung về Thuế  quan và Mậu dịch (GATT). Kể từ năm 1995, hiệp định này đã chuyển đổi thành Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Trong phần này, chúng ta sẽ cùng xem xét sự phát triển và hoạt động của cả GATT và WTO.

1.1. Từ thời kỳ của A.Smith tới Đại suy thoái ở Hoa Kỳ (1929-1933)

Lý thuyết kinh tế về thương mại tự do được đề cập tới từ cuối thế kỷ 18 với các nghiên cứu của Adam Smith và David Ricardo. Thương mại tự do dưới dạng chính sách của chính phủ lần đầu tiên được áp dụng ở  Liên hiệp Anh vào năm 1846, khi Quốc hội Anh thay thế Luật hạn chế nhập khẩu ngô vào nước này (gọi tắt là Đạo luật về ngô). Đạo luật này áp đặt một mức thuế quan cao đối với mặt hàng ngô nhập khẩu với mục tiêu làm tăng thu nhập của ngân sách chính phủ và bảo hộ những người nông dân trồng ngô của Anh. Kể từ những năm 1820 khi David Ricardo là một thành viên thì tại của Quốc hội Anh hàng năm luôn có những đợt vận động ủng hộ tự do thương mại. Tuy nhiên, bảo hộ nông nghiệp chỉ được rút bỏ sau khi diễn ra một cuộc tranh luận kéo dài về tác động của mùa màng thất bát ở Anh kết hợp sự đe dọa của nạn đói tại Ai-len. Phải đối mặt với những khó khăn và khổ cực của dân chúng, Quốc hội Anh đã thay đổi lại quan điểm vốn không thay đổi từ lâu.

 Trong khoảng thời gian khoảng 80 năm sau đó, nước Anh, với tư cách là một cường quốc thống trị thương mại lúc đó, đã thúc đẩy tiến trình tự do hóa hoạt động này; còn chính phủ Anh chỉ có tiếng nói rất yếu ớt. Các đối tác thương mại lớn của Anh không đáp lại chính sách của Anh về đơn phương thực hiện tự do hóa. Lý do duy nhất để nước Anh duy trì chính sách của mình trong một thời gian dài vì nước này là quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới lúc đó, nên nếu chiến tranh thương mại xảy ra thì phần thiệt hại sẽ lớn hơn so với lợi thu về hơn bất kỳ nước nào khác.

Cho đến thập kỷ 1930, những nỗ lực của Anh trong việc thúc đẩy tự do hóa thương mại đã bị chôn vùi khi xảy ra cuộc Đại suy thoái kinh tế. Nguồn gốc của cuộc Đại khủng hoảng chính là do sau Thế chiến thứ nhất vào năm 1918 nền kinh tế thế giới không thể phục hồi lại như ban đầu. Mọi thứ trở nên tồi tệ hơn vào năm 1929 với sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Hoa Kỳ và kéo theo đó là của hệ thống ngân hàng nước này. Các vấn đề về kinh tế lại càng phức tạp thêm khi vào năm 1930 Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật Smoot-Hawley nhằm dựng lên một bức tường thuế quan rất cao đối với hàng nhập khẩu. Hầu hết tất cả các ngành của Hoa Kỳ đều hưởng lợi từ hàng rào thuế quan này. Nhưng có một khía cạnh phi lý của hàng rào  thuế quan Smoot-Hawley là nước Hoa Kỳ lúc đó đang có cán cân thanh toán thặng dư và là nước chủ nợ lớn nhất trên thế giới. Đạo luật Smoot-Hawley đã có tác động tàn phá tới việc làm ở nước ngoài. Các nước khác  phản ứng với hành động của nước Hoa Kỳ bằng cách cũng nâng cao hàng rào thuế quan của nước mình. Ngay lập tức xuất khẩu của Hoa Kỳ sụt giảm nhanh chóng và thế giới trượt sâu hơn vào cuộc Đại khủng hoảng.

1.2. Giai đoạn 1947-1979: GATT, Tự do hóa thương mại và Tăng trưởng kinh tế

Những tổn hại về kinh tế gây ra bởi các chính sách “lợi ta hại người” mà đạo luật Smoot-Hawley mở đầu đã tạo ra một sự ảnh hưởng sâu rộng lên các tư tưởng và thể chế kinh tế trên thế giới thời kỳ sau Thế chiến thứ II. Nước Hoa Kỳ nổi lên với tư cách cường quốc thắng trận và cả là nước thống trị về mặt kinh tế. Sau sự sụp đổ hoàn toàn trong cuộc Đại suy thoái, các ý kiến trong Quốc hội Hoa Kỳ đã chuyển mạnh sang hướng ủng hộ tự do thương mại. GATT đã được thành lập với sự dẫn đầu của Hoa Kỳ vào năm 1947.

GATT là một hiệp định đa phương với mục tiêu tự do hóa thương mại bằng cách loại bỏ các thuế quan, trợ cấp, hạn ngạch nhập khẩu và những hàng rào tương tự. Số lượng thành viên của GATT đã tăng từ 19 tới hơn 120 nước kể từ khi được thành lập năm 1947 cho tới khi được tiếp nối bằng Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 1995. GATT không cố gắng đạt được sự tự do hóa thương mại chỉ bằng một lần cắt giảm, điều vốn dĩ là không thể xảy ra. Thay vào đó, việc cắt giảm thuế quan được rải ra trong suốt tám vòng đàm phán. Vòng đàm phán cuối cùng, vòng Uruguay, bắt đầu từ năm 1986 và kết túc vào tháng 12/1993. Trong các vòng đàm phán này, việc cắt giảm thuế quan lẫn nhau được đàm phán giữa tất cả các nước thành viên, những nước sau đó đã cam kết không tăng thuế nhập khẩu lên quá mức cam kết. Những quy định của GATT được đảm bảo có hiệu lực bằng một cơ chế giám sát lẫn nhau. Nếu như một nước cho rằng nước đối tác vi phạm quy định của GATT, nước này có thể yêu cầu cơ quan điều hành GATT đóng tại Geneve (Thụy Sĩ) điều tra. Nếu cơ quan  này của GATT thấy rằng sự khiếu nại là đúng sự thật, các nước thành viên có thể sẽ được yêu cầu gây sức ép nước vi phạm phải thay đổi chính sách của mình. Nhìn chung, những sức ép như vậy đủ để khiến cho nước vi phạm phải thay đổi chính sách của họ. Còn nếu không chấp thuận, nước đó sẽ bị khai trừ khỏi GATT.

Trong những năm đầu, GATT hoạt động rất thành công. Mức thuế quan trung bình đã giảm gần 92% tại Hoa Kỳ trong khoảng thời gian từ vòng đàm phán Geneve năm 1947 đến vòng đàm phán Tokyo năm 1973-79. Phù hợp với những lập luận lý thuyết đưa ra bởi D.Ricardo,  sự vận động hướng tới tự do thương mại theo hệ thống của GATT rõ ràng đã kích thích tăng trưởng kinh tế. Từ năm 1953 đến năm 1963, thương mại thế giới đã tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 6,1%, tổng thu nhập của thế giới tăng trưởng với mức tăng trung bình là 4,3%/năm. Giai đoạn từ năm 1963 đến 1973 thì tốc độ tăng còn tốt hơn với mức tăng trung bình 8,9%/năm đối với thương mại toàn cầu và 5,1%/năm đối với tổng thu nhập thế giới.

1.3. Giai đoạn 1980-1993: Các xu hướng bảo hộ

Trong giai đoạn thập kỷ 1980 và đầu thập kỷ 1990, hệ thống thương mại thế giới vốn được dựng lên bởi GATT rơi vào tình thế căng thẳng khi sức ép từ xu hướng bảo hộ gia tăng trên khắp thế giới. Ba nguyên nhân có thể xem là lý do dẫn đến tình trạng này trong thập kỷ 1980. Đầu tiên phải kể đến là sự thành công trong kinh tế của Nhật Bản đã dẫn tới những căng thẳng trong hệ thống thương mại thế giới. Khi GATT được thành lập, nước Nhật vẫn còn đang trong tình trạng bị tàn phá bởi chiến tranh. Tuy nhiên, đến đầu thập kỷ 1980, nước này đã trở thành nền kinh tế đứng thứ hai thế giới với tổng kim ngạch xuất khẩu rất lớn. Sự thành công của Nhật Bản trong các ngành công nghiệp như chế tạo ô tô và chất bán dẫn có lẽ cũng đủ để gây ra căng thẳng trong hệ thống thương mại thế giới. Tình trạng này còn trầm trọng hơn bởi quan điểm rộng rãi tại  phương  Tây cho rằng mặc dù có hàng rào thuế quan và trợ cấp rất thấp, thị trường Nhật Bản vẫn đóng lại đối với hàng nhập khẩu và đầu tư nước ngoài bởi các rào cản thương mại hành chính.

Thứ hai, hệ thống thương mại thế giới bị ảnh hưởng bởi thâm hụt thương mại triền miên của nền kinh tế lớn nhất thế giới là nước Hoa Kỳ. Mặc dầu, mức thâm hụt này đạt mức cao nhất vào năm 1987 với hơn 170 tỷ đô-la, cho đến cuối năm 1992, mức thâm hụt hàng năm vẫn ở khoảng 80 tỷ đô-la Hoa Kỳ. Từ khía cạnh chính trị, vấn đề trở nên trầm trọng hơn vào năm 1992 khi mức thâm hụt trong thương mại với Nhật Bản, vốn được xem là nước không tuân thủ luật chơi chung trên thị trường thế giới, thêm 45 tỷ đô-la Hoa Kỳ. Hậu quả của việc thâm hụt cán cân thương mại của Hoa Kỳ là dẫn tới những điều chỉnh hết sức chật vật trong các ngành như sản xuất xe hơi, máy công cụ, chất bán dẫn, thép và  ngành dệt, những ngành mà các nhà sản xuất trong nước đang mất dần thị phần vào tay các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Tình trạng thất nghiệp tăng cao đã lại làm dấy lên nhu cầu đòi hỏi phải bảo hộ các ngành sản xuất nội địa trước hàng nhập khẩu trong quốc hội Hoa Kỳ.

Lý do thứ ba dẫn tới xu hướng bảo hộ nhiều hơn là do có nhiều nước đã tìm được cách tránh được các quy định của GATT. Các hạn chế xuất khẩu song phương, VER, đã làm các thỏa thuận của GATT trở nên kém hiệu lực, do cả hai phía nước nhập khẩu và nước xuất khẩu đều không khiếu nại lên cơ quan điều hành của GATT tại Geneve – và không có khiếu nại thì cơ quan này cũng chẳng can thiệp được điều gì. Các nước xuất khẩu đồng tình với việc áp dụng VER nhằm tránh những mức thuế quan nhập khẩu mang tính trừng phạt cao. Một trong những ví dụ nổi tiếng là việc áp dụng hạn chế xuất khẩu tự nguyện VER trong ngành sản xuất xe hơi giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản. Theo đó, các nhà sản xuất Nhật Bản đã chấp thuận hạn chế lượng xe xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ như là một cách để giảm bớt căng thẳng thương mại giữa hai nước. Theo một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), 13% lượng hàng nhập khẩu của các nước phát triển vào năm 1981 là theo sự điều chỉnh của các hàng rào phi thuế quan như là VER. Cho tới năm 1986, con số này đã tăng lên thành 16%. Mức tăng cao nhất trong lĩnh vực này thuộc về Hoa Kỳ với trị giá nhập khẩu chịu tác động bởi các rào cản phi thuế quan (chủ yếu là hình thức VER) đã tăng thêm 23% từ năm 1981 cho đến năm 1986.

1.4. Vòng đàm phán Uruguay và Tổ chức thương mại thế giới WTO

Trước xu thế tăng lên của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, vào năm 1986 các nước thành viên của GATT đã khởi động vòng đàm phán thứ tám nhằm giảm các mức thuế quan, vòng đàm phán Uruguay (lấy tên địa điểm diễn ra tại Uruguay). Đây là vòng đàm phán khó khăn nhất, chủ yếu là vì đây cũng là vòng đàm phán nhiều tham vọng nhất. Cho tới thời điểm đó, các quy tắc của GATT mới chỉ áp dụng cho thương mại hàng hóa. Trong vòng Uruguay, các nước thành viên cố gắng mở rộng thêm các nguyên tắc áp dụng cho thương mại dịch vụ, đồng thời tìm cách ban hành các quy định điều tiết sự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, giảm trợ cấp trong nông nghiệp, cũng như củng cố cơ chế thực thi và giám sát của GATT.

Vòng đàm phán Uruguay kéo dài trong vòng bảy năm trước khi đạt được một thỏa thuận chung vào ngày 15/12/1993. Thỏa thuận này bắt đầu có hiệu lực từ 1/7/1995.

Vòng Uruguay bao gồm các quy định sau:

1. Thuế quan đối với hàng công nghiệp sẽ phải giảm xuống hơn một phần ba, và đối với hàng chế tạo thì mức cắt giảm sẽ là hơn 40%.

2. Mức thuế suất trung bình được các nước phát triển áp dụng đối với hàng chế tạo sẽ phải giảm xuống dưới mức 4% theo giá trị, mức thấp nhất trong lịch sử hiện đại.

3. Trợ cấp nông sản sẽ phải cắt giảm một cách đáng kể.

4. Các quy tắc về thương mại công bằng và tiếp cận thị trường của GATT được mở rộng đối với cả nhiều loại hình dịch vụ.

5. Các quy tắc của GATT cũng được mở rộng nhằm tăng cường bảo vệ cho bằng sáng chế (patent), bản quyền (copyright) và nhãn hiệu thương mại (trademark) (quyền sở hữu trí tuệ).

6. Các rào cản đối với thương mại hàng dệt may sẽ được giảm đáng kể trong vòng 10 năm.

7. Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập để thực thi các thỏa thuận của GATT.

Các dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ

Về lâu dài, việc mở rộng các quy tắc của GATT sang các lĩnh vực dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ là một bước tiến đặc biệt quan trọng. Cho tới năm 1995, các quy tắc của GATT mới chỉ áp dụng đối với các hàng hóa công nghiệp (cả hàng chế tạo và thành phẩm). Vào năm 2005, thương mại dịch vụ trên thế giới đã đạt tới  mức doanh thu

2.415 tỷ đôla Hoa Kỳ (so với doanh thu của thương mại thế giới về hàng hóa là 10.120 tỷ đôla Mỹ). Và cuối cùng thì việc mở rộng các quy tắc của GATT cũng đã vươn tới các lĩnh vực thương mại quan trọng này đã tạo ra một sự gia tăng mạnh mẽ cả về thị phần và quy mô của thương mại dịch vụ trong tổng thương mại toàn cầu. Việc các quy tắc của GATT mở rộng sang lĩnh vực bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sẽ tạo điều kiện cho các công ty công nghệ cao tham gia kinh doanh tại các nước đang phát triển, nơi mà các quy tắc quy định về những quyền này có hiệu lực thực thi rất kém.

Tổ chức thương mại thế giới (WTO)

Việc phân loại và tăng cường các quy tắc của GATT cũng như việc thành lập ra Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã mang lại một sự hứa hẹn về hiệu quả thực thi tốt hơn của các chính sách và quy tắc của GATT. WTO hoạt động giống như một tổ chức bao trùm bao gồm cả GATT và hai cơ quan mới, một về dịch vụ và một về quyền sở hữu trí tuệ. Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) của WTO chính là nhân tố tiên phong trong việc mở rộng các hiệp định tự do thương mại về các lĩnh vực dịch vụ. Còn Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) của WTO lại là một nỗ lực để thu hẹp khoảng cách về cách thức và mức độ mà quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ trên toàn thế giới cũng như cung cấp các quy tắc quốc tế chung về vấn đề này. vWTO cũng đảm trách việc phân xử các tranh chấp thương mại cũng như giám sát chính sách thương mại của các nước thành viên. Trong khi WTO cũng hoạt động dựa trên nguyên tắc đồng thuận giống như GATT trước đó, nhưng trong phạm vi giải quyết tranh chấp,  các nước thành viên không còn có thể phong tỏa việc áp dụng các phán quyết trọng tài. WTO sẽ tự động áp dụng các phán quyết của ban trọng tài về các tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trừ khi có sự đồng thuận cùng bãi bỏ các phán quyết đó. Những nước mà ban trọng tài ra phán quyết là đã vi phạm quy tắc  của WTO có thể yêu cầu kháng cáo lên một cơ quan thường trực, nhưng phán quyết vẫn có tính ràng buộc. Nếu bên vi phạm không tuân theo những đề xuất của ban trọng tài, các đối tác thương mại sẽ có quyền bù đắp hoặc, cách cuối cùng, là áp dụng (một cách tương xứng) những trừng phạt thương mại. Tất cả các khâu thủ tục đều phải tuân thủ các giới hạn về thời gian rất chặt chẽ. Do vậy, có thể xem WTO đã được trang bị thêm một thứ mà GATT chưa từng có được – đó là công cụ thực thi hiệu lực.

WTO: Kinh nghiệm cho đến nay

Cho tới thời điểm năm 2009, WTO đã có 153 thành viên, bao gồm cả Trung Quốc, nước gia nhập tổ chức này vào cuối năm 2001. 25 quốc gia khác, bao gồm LB Nga và Ucraina, vẫn đang đàm phán để gia nhập vào tổ chức này. Kể từ khi thành lập cho đến nay WTO vẫn là tổ chức hàng đầu trong nỗ lực thúc đẩy tự do hóa thương mại trên toàn cầu. Những người sáng tạo ra tổ chức này diễn tả hy vọng rằng cơ chế thực thi mà WTO có được sẽ khiến cho tổ chức này hiệu quả hơn trong việc ban hành các quy tắc điều chỉnh thương mại toàn cầu so với GATT trước đó. Niềm hy vọng lớn lao là WTO sẽ nổi lên như là một cơ quan ủng hộ và tạo điều kiện  thuận  lợi cho các hợp đồng thương mại trong tương lai, đặc biệt trong các lĩnh vực như dịch vụ. Kinh nghiệm cho tới nay cho thấy là đáng khích lệ, mặc dù có sự thất bại của vòng đàm phán của WTO tại Seattle vào cuối năm 1999 và sự tiến triển hết sức chậm chạp của vòng đàm phán thương mại tiếp theo là Vòng Doha đã gây ra những sự hoài nghi về hướng đi trong tương lai của tổ chức này.

WTO với vai trò giám sát toàn cầu

Thập kỷ đầu tiên của WTO đã cho thấy rằng cơ chế giám sát và xây dựng chính sách của tổ chức này đã mang lại những tác động tích cực. Trong giai đoạn từ năm 1995 đến đầu năm 2007, đã có hơn 360 tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên được đệ trình lên cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO. Số lượng này đem so sánh với con số 196 trường hợp được giải quyết trong vòng gần ½ thế kỷ tồn tại của GATT sẽ thấy được sự khác biệt đáng kể. Trong số các trường hợp đệ trình lên WTO, ba phần tư đã được giải quyết bằng hình thức tư vấn không chính thức giữa các nước tranh chấp. Việc giải quyết các trường hợp còn lại đòi hỏi các trình tự thủ tục chính thức, nhưng phần lớn cũng đã được giải quyết thành công. Nhìn chung, các nước liên quan đều áp dụng các đề xuất của WTO. Thực tế là các nước đang sử dụng WTO đại diện cho một phiếu bầu lòng tin quan trọng trong thủ tục giải quyết tranh chấp của tổ chức này.

Mở rộng các hiệp định thương mại

Như đã giải thích ở phần trước, Vòng đàm phán Uruguay của GATT đã mở rộng các quy tắc thương mại toàn cầu sang điều chỉnh cả lĩnh vực thương mại dịch vụ. Tổ chức WTO đã được trao vai trò trung gian cho các thỏa thuận thương mại trong tương lai nhằm mở ra thương mại toàn cầu về dịch vụ. WTO cũng được khuyến khích mở rộng ra bao trùm cả các quy định điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, lĩnh vực mà GATT chưa từng động đến. Hai ngành đầu tiên được nhắm tới cho quá trình mở cửa và cải cách là ngành viễn thông và ngành dịch vụ tài chính toàn cầu.

Vào tháng 2/1997, WTO đã làm trung gian để các nước thỏa thuận mở cửa thị trường viễn thông của mình cho cạnh tranh từ bên ngoài, cho phép các nhà cung cấp nước ngoài được quyền mua cổ phần trong các công ty viễn thông trong nước và thiết lập một bộ các nguyên tắc chung về cạnh tranh công bằng. Theo hiệp  ước này, 68 nước chiếm hơn 90% tổng doanh số của ngành viễn thông thế giới đã cam kết bắt đầu mở cửa thị trường của mình cho bên ngoài vào cạnh tranh cũng như tuân thủ các quy tắc chung về cạnh tranh bình đẳng trong lĩnh vực viễn thông. Hầu hết các thị trường lớn nhất thế giới, bao gồm Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU) và Nhật Bản đã hoàn toàn tự do hóa kể từ 1/1/1998, khi mà hiệp ước này bắt đầu có hiệu lực.

Điều này được tiếp nối vào tháng 12/1997 khi hiệp định tự do hóa thương mại qua biên giới các dịch vụ tài chính, và thực tế bao trùm hơn 95% thị trường dịch vụ tài chính của thế giới. Theo hiệp định này, vốn bắt đầu có hiệu lực kể từ 1/3/1999, 102 nước cam kết mở cửa ở các mức độ khác nhau các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, và khu vực bảo hiểm cho các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Cũng giống như với hiệp định về viễn thông, các hiệp định này cũng bao gồm không chỉ các hoạt động thương mại qua biên giới mà còn cả các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. 70 quốc gia đã đồng ý giảm phần lớn hoặc loại bỏ hẳn các rào cản đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực dịch vụ tài chính của họ. Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu (EU), với những ngoại lệ rất nhỏ, đã gần như mở cửa hoàn toàn cho đầu tư của các ngân hàng, công ty bảo hiểm và công ty chứng khoán nước ngoài. Tham gia một phần vào hiệp định này, các nước châu Á cũng đã nhượng bộ đáng kể khi lần đầu tiên cho phép các công ty tài chính nước ngoài có thể tham gia vào khu vực tài chính của mình

WTO tại Seattle: Liệu có phải là một bước ngoặt?

Vào cuối tháng 11/1999, đại diện từ các nước thành viên của WTO đã gặp nhau tại thành phố Seattle, bang Washington (Mỹ) với mục tiêu khởi động một vòng đàm phán mới – dưới tên gọi “Vòng đàm phán Thiên niên kỷ” – nhằm giảm mạnh hơn nữa các rào cản đối với các hoạt động và đầu tư qua biên giới. Trong chương trình nghị sự của

cuộc gặp này nổi bật lên nỗ lực tập hợp các nước đồng ý tiến tới việc cắt giảm các hàng rào đối với thương mại hàng nông sản cũng như thương mại và đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ.

Những kỳ vọng này đã vấp phải những khó khăn không lường trước được của thực tế. Cuộc đàm phán đã kết thúc vào ngày 3/12/1999 mà không đạt được thỏa thuận nào. Bên trong các phòng họp, vấn đề là không có khả năng đạt được sự đồng thuận về các mục tiêu căn bản cho vòng đàm phán tiếp theo. Trở ngại lớn nhất đó là sự va chạm giữa Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu (EU) về việc liệu có thể xác nhận mục tiêu loại bỏ một cách cơ bản các khoản trợ cấp xuất khẩu nông sản. Hoa Kỳ thì muốn ưu tiên loại bỏ các khoản trợ cấp đó trong khi EU lại không sẵn sàng làm như vậy với các lý do có truyền thống lâu đời thực hiện trợ cấp cho nông dân cũng như sức mạnh chính trị của các hoạt động vận động hành lang của các trang trại. Một trở ngại khác liên quan tới nỗ lực của Hoa Kỳ trong việc đưa “các quyền lao động cơ bản” vào trong luật của hệ thống thương mại thế giới. Hoa Kỳ muốn WTO cho phép các chính phụ áp thuế đối với hàng nhập khẩu từ các nước mà Hoa Kỳ cho rằng không tuân thủ thực tiễn lao động công bằng. Các đại diện từ các nước đang phát triển phản ứng dữ dội đối với đề xuất này, cho rằng đó đơn giản chỉ là nỗ lực của Hoa Kỳ tìm cách về mặt pháp lý hạn chế hàng nhập khẩu từ các quốc gia nghèo hơn.

Trong lúc các cuộc tranh cãi tại các phòng họp diễn ra hết sức gay gắt thì các sự kiện diễn ra bên ngoài đã thu hút sự chú ý của truyền thông toàn cầu. Các cuộc đàm phán của WTO đã đóng vai trò thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của rất nhiều tổ chức đa dạng khác nhau từ các nhà hoạt động môi trường, các nhóm nhân quyền cho tới các tổ chức công đoàn. Vì nhiều lý do khác nhau, những tổ chức này phản đối tự do hóa thương mại. Tất cả các tổ chức này lập luận rằng WTO là một cơ quan không dân chủ đang tiến hành chiếm đoạt quyền tự chủ của các quốc gia thành viên và ra các quyết định quan trọng đằng sau các cánh cửa đóng kín. Họ tranh thủ cuộc họp tại Seattle để lên tiếng phản đối và đã được truyền thông thế giới ghi lại. Các nhà môi trường bày tỏ lo lắng về tác động có thể có của tự do thương mại đối với hàng nông sản lên tốc độ phá rừng trên toàn cầu. Họ cho rằng mức thuế thấp đối với gỗ xẻ từ các nước đang phát triển sẽ kích thích nhu cầu tiêu dùng và sẽ đẩy nhanh tốc độ chặt hạ các diện tích rừng nguyên sinh, đặc biệt tại các quốc gia như Malaysia và Indonesia. Họ cũng nêu lên tác động nguy hại mà các quy định của WTO ảnh hưởng tới các chính sách về môi trường. Ví dụ, WTO mới gần đây đã cấm một đạo luật của Hoa Kỳ vốn yêu cầu lưới bắt tôm cần phải có gắn thêm thiết bị để cho phép các loài rùa biển đang có nguy cơ tuyệt chủng có thể thoát được. WTO đã nhận định đây là một hình thức phân biệt đối xử đối với các nhà nhập khẩu nước ngoài không có các loại  lưới đó. Các nhà môi trường thì lại cho rằng cần thiết phải có đạo luật đó để bảo vệ các loại rùa khỏi sự tuyệt chủng.

Các nhà hoạt động nhân quyền nhìn nhận các quy định của WTO đã đặt ngoài vòng pháp luật khả năng của các quốc gia trong việc cấm hàng nhập khẩu từ các nước sử dụng lao động trẻ em hoặc có điều kiện lao động nguy hiểm. Tương tự như vậy, các tổ chức công đoàn phản đối các đạo luật thương mại cho phép nhập khẩu từ các nước có mức lương thấp coi đó như là nguyên nhân dẫn tới tình trạng thất nghiệp tại các nước có mức lương cao. Họ củng cố vị thế của mình bằng việc đưa ra lập luận rằng người lao động tại Hoa Kỳ đang mất dần việc làm vào tay hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia đang phát triển mà tại đó không có đầy đủ các tiêu chuẩn về lao động.

Những người ủng hộ WTO và tự do hóa thương mại gạt bỏ những mối lo lắng đó và liên tục chỉ ra rằng sự tồn tại của WTO là để phục vụ cho lợi ích của các nước thành viên chứ không phải phá hoại chúng. Tổ chức WTO thiếu khả năng bắt buộc các nước thành viên hành động đối với điều mà quốc gia đó phản đối. WTO có thể cho phép quốc gia thành viên áp đặt các mức thuế trả đũa đối với những nước không tuân thủ các nguyên tắc của WTO, nhưng điều này chính là hạn chế quyền lực của WTO. Hơn nữa, những người ủng hộ  cũng cho rằng, chính các nước giàu mới là những nước thông qua các đạo luật chặt chẽ về môi trường, luật về kiểm soát các tiêu chuẩn lao động chứ không phải các nước nghèo. Theo quan điểm của họ, tự do  thương  mại, thông qua việc nâng cao mức sống tại các nước phát triển, sẽ dẫn tới việc thông qua các đạo luật trên tại những nước này. Họ tin rằng, việc sử dụng các quy định thương mại để cố gắng áp đặt những thực tiễn đó lên các nước đang phát triển sẽ dẫn tới sự phản ứng thất sách (từ chính các nước này).

Nhiều đại diện từ các nước đang phát triển, chiếm tới 110 nước trong tổng số 153 thành viên của WTO, cũng từ chối quan điểm của các nhà môi trường và những người ủng hộ nhân quyền và các quyền lao động. Các nước nghèo, vốn phụ thuộc vào xuất khẩu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thoát khỏi đói nghèo, lo sợ rằng các nước giàu sẽ sử dụng các mối quan tâm về môi trường, quyền con người, và các vấn đề liên quan tới lao động để dựng lên hàng rào đối với các sản phẩm từ thế giới đang phát triển. Những nước này tin rằng những nỗ lực đưa các quy định về môi trường, hoặc các tiêu chuẩn lao động vào các hiệp định thương mại trong  tương lai sẽ chẳng mang lại gì nhiều ngoài các hàng rào thương mại dưới cái tên khác. Nếu như điều này xảy ra, họ cho rằng tác động sẽ là đẩy các nước đang phát triển vào vòng xoáy của nghèo đói và nợ nần.

Những gì diễn ra tại Seattle là rất đáng lưu ý bởi vì những sự kiện đó có thể là những bước ngoặt lớn.  Trong quá khứ, các cuộc đối thoại về thương mại trước đó thường được tiến hành trong phạm vi hẹp với sự quan tâm của một số ít các nhà kinh tế học, chính trị gia và một số doanh nhân nhất định. Sự kiện tại Seattle đã cho thấy các vấn đề xung quanh xu hướng toàn cầu về tự do hóa thương mại đã chuyển dịch sang vị trí trung tâm của sự nhận thức đại chúng. Những bàn cãi về sự xứng đáng của tự do thương mại và toàn cầu hóa đang trở thành dòng tranh luận chính. Do đó, liệu tự do hóa hơn nữa có xảy ra không phụ thuộc vào tầm quan trọng của ý kiến đông đảo tại các nước như nước Hoa Kỳ  gắn liền với những vấn đề như quyền con người và các tiêu chuẩn lao động, an ninh việc làm, các chính sách môi trường và chủ quyền quốc gia. Điều đó cũng phụ thuộc vào khả năng những người ủng hộ tự do thương mại có thể diễn đạt lập luận của mình một cách rõ  ràng và thuyết phục rằng, về lâu dài, thương mại tự do là cách tốt nhất để thúc đẩy các tiêu chuẩn lao động đầy đủ, mang lại nhiều việc làm hơn, và góp phần bảo vệ môi trường.