Sự phát triển của kinh tế tư nhân

                                                                                             

1. Sự phát triển về số lượng của khu vực kinh tế tư nhân:                                           

a) Về hộ kinh doanh cá th

Hộ kinh doanh cá thể có số lượng lớn và tăng nhanh. Số hộ kinh doanh cá thể hoạt động từ 1.498.611 hộ năm 1992 lên 2.016.259 hộ năm 1996, tốc độ tăng bình quân 7,68%/năm, mỗi năm tăng 129.412 hộ. Từ năm 1996 đến năm 2000, số lượng hộ kinh doanh cá thể hoạt động tăng chậm, từ 2.016.259 hộ năm 1996, lên 2.137.731 hộ năm 2000, tăng bình quân 1,47%/năm, mỗi năm tăng 30.364 hộ.

Ở thời  điểm năm 2000, số hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ chiếm 51,89% ; số hộ sản xuất công nghiệp chiếm 30,21%,; giao thông vận tải chiếm 11,63%, ; xây dựng chiếm 0,81%, các hoạt động khác chiếm 5,64%. Tính đến cuối năm 2003, cả nước có 2,7 triệu hộ kinh doanh cá thể công thương nghiệp, 130.000 trang trại và trên 10 triệu hộ nông dân sản xuất hàng hoá.

b) . Sự phát triển về số lượng của doanh nghiệp của tư nhân                                                                                                 Tính chung cho cả thời kỳ 1991- 2000, số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tăng bình quân là 96,19%/năm, từ 132 doanh nghiệp năm 1991 đến hết năm 1996 đã có 30.897. Các năm từ 1997 đến 1999, số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh giảm. Từ khi Luật Doanh nghiệp được thực hiện, số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tăng rất nhanh: tính từ năm 2000 đến hết 9 tháng đầu năm 2001, số doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh là 24.384 doanh nghiệp, nhiều hơn cả số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh 5 năm trước đó cộng lại (22.747 doanh nghiệp). Về cơ cấu các loại hình doanh nghiệp được đăng ký kinh doanh trong tổng số 66.777 doanh nghiệp (30/9/2001): số lượng doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất 58,76% (39.239 doanh nghiệp), công ty TNHH chiếm 38,68% (25.835 doanh nghiệp), công ty cổ phần chiếm 2,55% (1.700 doanh nghiệp), công ty hợp doanh chỉ chiếm 0,004% (3 doanh nghiệp).

– Tính đến 31/12/2000, cả nước có 56.831 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, nhưng số doanh nghiệp thực tế hoạt động là 29.548 doanh nghiệp (51,99%), còn lại là các doanh nghiệp chưa hoạt động 9.581 doanh nghiệp (16,85%), số doanh nghiệp giải thể, chuyển sang loại hình khác là 13.887 doanh nghiệp (24,43%), số doanh nghiệp chưa tìm thấy là 3.815 doanh nghiệp (6,71%). Số lượng các doanh nghiệp thực tế hoạt động tập trung cao ở ngành thương mại, dịch vụ: 17.535 doanh nghiệp (59,34%); tiếp đến là công nghiệp: 6.979 doanh nghiệp (23,61%); còn lại là các ngành khác: 5.034 doanh nghiệp (17,03%).

– Tổng số doanh nghiệp tính đến thời điểm 01/01/2012 trên phạm vi cả nước tồn tại về mặt pháp lý là 541.103 doanh nghiệp, nếu loại trừ 92.710 doanh nghiệp không thể xác minh được, thì tổng số doanh nghiệp của toàn bộ nền kinh tế là 448.393 doanh nghiệp. Trong đó, doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm 96,47% (432.559 doanh nghiệp). doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 2,5%, còn lại là doanh nghiệp Nhà nước.

Các doanh nghiệp đã đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế của đất nước, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, (Khu vực kinh tế tư nhân tạo ra 50,2% việc làm của cả nước năm 2010) tăng ngân sách nhà nước, góp phần ổn định chính trị xã hội.

2) Sự đóng góp vào Tổng sản phẩm quốc nội hay GDP ( Gross Domestic Product)  

Kinh tế tư bản tư nhân, trong giai đoạn này tăng giảm tỷ trọng trong GDP không ổn định, 1995 là 3,12%; 1997 là 3,38%, 1998 là 3,41%; 1999 là 3,37 %, 2000 là 3,3%. Năm 1997 và 1998 tỷ trọng tăng, nhưng 1999 và 2000 lại giảm do hậu quả ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực. Trong giai đoạn này, tỷ trọng của kinh tế cá thể trong GDP giảm đều, từ 36,02% năm 1995 còn 32,03% năm 2000. Chỉ có tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong GDP tăng, 1995 là 6,3%; năm 1998 là 10,03%; năm 2000 là 13,25%. Tính đến cuối năm 2003, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 8% GDP tuy nhiên theo các chuyên gia  thực tế con số còn lớn hơn nhiều. GDP của khu vực kinh tế tư nhân (trong đó chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa) từ chiếm 45,6% tổng GDP năm 2006 đã tăng lên khoảng 48% trong năm 2010.

Ngoài ra khu vực kinh tế tư nhân còn đóng góp  phần quan trọng tăng nguồn thu ngân sách nhà nước góp phần giải quyết nhiều vấn đề kinh tế – xă hội đặt ra, tính ra bình quân hàng năm khu vực ngoài quốc doanh đóng góp vào nguồn thu cho ngân sách trên dưới 3% GDP của cả nước, cao gấp 3 lần đóng góp của khu vực liên doanh với nước ngoài (0,9% GDP/năm) và gần 1/2 đóng góp của các doanh nghiệp nhà nước (7% GDP/năm).

3. Sự phát triển về quy mô vốn đầu tư, lao động xã hội và địa bàn kinh doanh

a. Về qui mô vốn đầu tư                                                                                                       Vốn đầu tư các doanh nghiệp dân doanh và hộ kinh doanh cá thể đang trở thành nguồn vốn đầu tư toàn xă hội đă tăng từ 20% (2000) lên 23% (2001) và 28% (2002). Mức vốn đăng kí trung bình trên doanh nghiệp cũng có xu hướng tăng lên. Theo báo cáo tổng kết 4 năm thi hành luật doanh nghiệp, thời kỳ 1991-1999, đăng kí bình quân trên doanh nghiệp là gần 0,57 tỷ đồng. Năm 2000 là 0,96 tỷ đồng, năm 2002 là 2,8 tỷ đồng, 3 tháng đầu năm 2003 là 2,6 tỷ đồng. Tính chung mức vốn đăng kí trung bình của doanh nghiệp là khoảng 1,25 tỷ đồng (2002).

Kinh tế cá thể tiểu chủ tuy quy mô nhỏ nhưng với cơ sở sản xuất kinh doanh lớn, đă động viên được nhiều nguồn vốn sản xuất kinh doanh từ 14.000 tỷ đồng (1992) tăng lên 26.500 tỷ đồng năm 1996 chiếm tới 8,5% tổng vốn đầu tư sản xuất kinh doanh của toàn xă hội.

b) Về lao động xã hội                                                                                                          Đây là khu vực có tỷ lệ thu hút lao động trên vốn đầu tư cao nhất trong nền kinh tế, trong thời kỳ 1991-1996 bình quân mỗi năm giải quyết thêm 72.020 việc làm, trong 5 năm 1996-2000, lao động trong khu vực kinh tế tư nhân tăng thêm 778.681 người. Phát triển kinh tế tư nhân góp phần tạo công ăn việc làm cho một lượng lớn lao động, xóa đói giảm nghèo bảo đảm đời sống và do đó góp một phần đáng kể cho việc ổn định xă hội: Theo kết quả điều tra năm 2000 của tổng cục thống kê, mức thu nhập trung bình một tháng /1 lao động (1000 đồng) của các doanh nghiệp nói chung là 1041,1; doanh nghiệp nhà nước là 1048,2; doanh nghiệp tư nhân là 651,1;  công ty cổ phần là 993,0; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 1754,5.                                                                                                                                               Nh­ư vậy mức thu nhập của lao động khu vực kinh tế tư nhân cao hơn khu vực kinh tế tập thể. Thu nhập trung bình của một lao động trong khu vực kinh tế tư nhân cao gấp 2 đến 3 lần so với mức lương cơ bản mà nhà nước quy định.

c) Về địa bàn kinh doanh

Năm 2000, luật doanh nghiệp đã được ban hành, Chính phủ cũng quyết định bãi bỏ 145 loại giấy phép gây cản trở kinh doanh. Đạo luật này đã tháo bỏ những rào cản đối với doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp tư nhân, và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Khu vực kinh tế tư nhân mà chủ yếu là các doanh nghiệp đă mở rộng các hoạt động kinh doanh trong hầu hết các ngành và các lĩnh vực mà pháp luật không cấm.kinh tế tư nhân không chỉ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, thương mại mà đă mở rộng hoạt động trong các ngành công nghiệp. Sản xuất tư liệu sản xuất, chế biến, công nghệ thông tin, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, tư vấn.

4. Sự phát triển trong công nghiệp

Thành phần kinh tế tư nhân được tăng nhanh trong giai đoạn 1986- 1990, nhất là sau nghị định 27- HĐBT, và nghị quyết 16- BCT năm 1988.

Tốc độ tăng trưởng trong công nghiệp, từ 1995-2000 như sau: 14.5%; 14,2%; 13,8%; 12,5%; 11,6%; 15,7% vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng cao như 5 năm trước, trong khi nhiều nước ở khu vực bị sa sút nghiêm trọng. Tỷ trọng công nghiệp khai thác mỏ trong GDP tăng lên ổn định, từ 4,81% năm 1995 lên 9,51% năm 2000. Tiếp theo là công nghiệp chế biến từ 14.99%( 1995) lên 18,67% (2000).

Năng lực sản xuất các sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng nhanh năm 2000 so với 1995 như: công suất điện gấp 1,5 lần; xi măng gấp 2,1 lần; phân bón gấp 3 lần; thép gấp 1,7 lần. Sản lượng 1 số sản phẩm quan trọng so với năm 1995 dầu thô gấp 2,1 lần; điện gấp 1,8 lần; thép cán gấp 3 lần, xi măng gấp 2 lần; vải gấp 1,5 lần…

Cơ cấu ngành công nghiệp chuyển dịch đáng kể, hình thành một số sản phẩm mũi nhọn, một số khu công nghiệp và khu chế xuất, toàn quốc tính ffến năm 2000 đã có 70 khu công nghiệp. Năm 2000, công nghiệp khai thác dầu thô , khí đốt đã chiếm 11,2% giá trị sản xuất toàn ngành, tương tự công nghiệp sản xuất thực phẩm và đồ uống chiếm 20% công nghiệp sản xuất và phân phố điện, khí đốt, hơi nước chiếm 5,4%.