Tác động của cơ cấu nguồn vốn đến khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán phản ánh năng lực tài chính của DN để đáp ứng nghĩa vụ nợ tới hạn. Để phân tích tác động của cơ cấu nguồn vốn đến khả năng thanh toán, tác giả đi xem xét mối quan hệ giữa hệ số nợ vay, hệ số NVTX và hệ số NVBN đối với hệ số khả năng thanh toán hiện thời.

Biểu đồ 2.12 cho thấy cơ cấu nguồn vốn tác động làm cho khả năng thanh toán của các DN luôn ở mức cao: hệ số khả năng thanh toán hiện thời gia tăng mạnh trong giai đoạn 2012-2015 từ mức 1,93 lần lên 2,59 lần và giảm mạnh trong giai đoạn 2015-2017 từ mức 2,59 lần xuống 1,84 lần. Bình quân giai đoạn nghiên cứu, hệ số KNTT hiện thời là 2,13 lần cho thấy các DN có năng lực tài chính cao trong việc đáp ứng nghĩa vụ nợ, phản ánh tình hình tài chính ổn định và rủi ro tài chính thấp. Cơ cấu nguồn vốn phản ánh qua 3 hệ số bao gồm hệ số nợ vay, hệ số NVTX và hệ số NVBN đều có xu hướng giảm sút cho thấy cơ cấu nguồn vốn hiện có sự biến động ngược chiều đối với khả năng thanh toán.

Bảng 2.2 phản ánh cơ cấu nguồn vốn tác động làm cho khả năng thanh toán của các DN thuộc nhóm quy mô lớn, trung bình và nhỏ đều ở mức cao: bình quân KNTT hiện thời của nhóm quy mô lớn, trung bình và nhỏ lần lượt là 2,12 lần; 2,15 lần và 2,14 lần. Điều này phản ánh cơ cấu nguồn vốn hiện hành của các doanh nghiêp đang làm cho khả năng thanh toán của các DN ở mức cao làm cho rủi ro tài chính của các DN ở mức thấp.

Qua phân tích tác động của cơ cấu nguồn vốn đến rủi ro tài chính của các CTCP ngành điện niêm yết có thể nhận thấy rủi ro tài chính của các DN ở mức thấp, điều này được phản ánh qua các nhận định sau đây:

Thứ nhất, sự cân bằng về mặt tài chính của các DN được đảm bảo, nguồn vốn thường xuyên không những tài trợ hoàn toàn cho tài sản dài hạn mà còn dùng để tài trợ cho tài sản ngắn hạn, tạo ra một “tấm đệm an toàn” đối với khả năng thanh toán của các DN. Sự gia tăng quy mô và tỷ trọng NWC do sự gia tăng quy mô và tỷ trọng nguồn vốn thường xuyên mà chủ yếu từ nguồn vốn chủ sở hữu; ngoài ra còn có nguyên nhân từ sự giảm sút quy mô và tỷ trọng TSDH do các khoản phải thu dài hạn được thu hồi làm giảm lượng vốn DN bị chiếm dụng.

Thứ hai, mức độ độc lập tài chính của các DN ở mức cao và có xu hướng gia tăng trong giai đoạn nghiên cứu. Điều này giúp các DN giảm thiểu sự ràng buộc của DN đối với các chủ nợ về áp lực thanh toán nợ gốc và lãi vay; giảm thiểu sự chi phối của các chủ nợ trong các quyết định sản xuất kinh doanh của DN. Việc lựa chọn dự án đầu tư được thực hiện một cách tự chủ và chủ động hơn; quyền kiểm soát của DN không bị phân tán nhiều.

Thứ ba, cơ cấu nguồn vốn tác động làm cho khả năng thanh toán của các DN luôn ở mức cao. Một mặt, điều này sẽ giúp các DN gặp thuận lợi trong việc đáp ứng nghĩa vụ nợ vay; truyền tải tín hiệu tích cực đối với các nhà đầu tư trên thị trường tài chính và gặp thuận lợi trong việc tiếp cận đối với nguồn tài trợ từ nợ vay. Mặt khác, khả năng thanh toán của các DN ở mức cao cũng là cơ sở nâng cao mức độ xếp hạng tín nhiệm DN trên thị trường chứng khoán, giúp các DN gặp thuận lợi khi tiếp cận đối với nguồn vốn chủ sở hữu từ việc phát hành cổ phần khi có nhu cầu đầu tư vào các công trình, dự án sản xuất điện năng.