Tác động của cơ cấu nguồn vốn đến sự cân bằng tài chính

Nguyên tắc đảm bảo tính tương thích trong hoàn thiện cơ cấu nguồn vốn đặt ra yêu cầu về sự tương thích giữa thời gian đáo hạn của các nguồn tài trợ và thời gian đem lại lợi ích kinh tế của các tài sản tương đồng. Theo đó, nguồn vốn thường xuyên chủ yếu được DN sử dụng để tài trợ cho tài sản dài hạn; một bộ phận của nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời được sử dụng để tài trợ đầu tư hình thành tài sản ngắn hạn. Như vậy, một bộ phận chênh lệch lớn hơn giữa nguồn vốn thường xuyên và tài sản dài hạn sẽ tạo ra sự cân bằng tài chính hay “tấm đệm an toàn” đối với các DN trong đáp ứng nghĩa vụ nợ giảm thiểu rủi ro tài chính của DN – phần này gọi là nguồn vốn lưu động thường xuyên (ký hiệu là NWC – Net Working Capital). Để phân tích tác động của cơ cấu nguồn vốn đến sự cân bằng tài chính, tác giả sử dụng những chỉ tiêu sau:
(i) Quy mô NWC; (ii) Tỷ trọng NWC trên tổng tài sản (gọi tắt là tỷ trọng NWC)

Biểu đồ 2.10 cho thấy sự cân bằng tài chính được cải thiện đáng kể trong giai đoạn nghiên cứu: quy mô NWC tăng từ mức 7.007.458 triệu đồng năm 2012 lên 9.539.752 triệu đồng năm 2014, duy trì ổn định ở mức bình quân là 9765.672 triệu đồng trong giai đoạn 2014-2016 và giảm xuống mức 6.160.998 triệu đồng năm 2017. Tỷ trọng NWC tăng từ mức 17,35% năm 2012 lên 23,73% năm 2014, ổn định ở mức bình quân là 23,98% trong giai đoạn 2014- 2016 và giảm xuống mức 18,70% năm 2017. Hệ số nợ vay và tỷ trọng NVBN biến động ngược chiều với tỷ trọng NWC trong giai đoạn 2012-2014, biến động cùng chiều với tỷ trọng NWC trong giai đoạn 2014-2017. Tỷ trọng NVTX biến động cùng chiều với tỷ trọng NWC trong giai đoạn nghiên cứu.

Đối với các CTCP quy mô lớn (Phụ lục 10): Sự cân bằng tài chính được cải thiện đáng kể trong giai đoạn 2012-2016: quy mô NWC tăng từ mức 5.382.172 triệu đồng năm 2012 lên 28.416.933 triệu đồng năm 2014 duy trì ổn định ở mức bình quân là 7.243.993 triệu đồng trong giai đoạn 2014-2016 và giảm xuống 3.602.251 triệu đồng năm 2017; tỷ trọng NWC tăng từ mức 16,93% năm 2012 lên 23,11% năm 2014, duy trì ổn định ở mức bình quân là 23,59% trong giai đoạn 2014-2016 và giảm xuống mức 15,70% năm 2017.

Đối với các CTCP quy mô trung bình (Phụ lục 10): Quy mô NWC bình quân giai đoạn nghiên cứu là 1.743.605 triệu đồng. Tỷ trọng NWC gia tăng mạnh từ mức 16,93% năm 2012 lên 23,11% năm 2014 và duy trì ổn định ở mức 23,55% trong giai đoạn 2014-2016 và giảm xuống mức 15,70% năm 2017.

Đối với nhóm CTCP quy mô nhỏ (Phụ lục 10): Quy mô NWC bình quân giai đoạn nghiên cứu là 559.129 triệu đồng; tỷ trọng NWC bình quân giai đoạn nghiên cứu là 18,26%.