Tác động của cơ cấu nguồn vốn đến tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu

Để phân tích tác động của cơ cấu nguồn vốn đến tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu, tác giả đi phân tích cơ chế tác động của đòn bẩy tài chính (D/E) đến ROE qua công thức sau: ROE = [BEP + D/E (BEP – Rd)]] (1-t)

Trong đó:

  • ROE: Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu
  • BEP: Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản; BEP = EBIT/ (D+E)
  • D: Nợ vay
  • E: Vốn chủ sở hữu
  • Rd: Lãi suất vay vốn bình quân

t: Thuế suất thuế thu nhập DN

Bảng 2.3 cho thấy BEP gia tăng trong giai đoạn 2012-2014 từ 7,09% lên 12,90% và giảm trong giai đoạn 2014-2016 từ 12,90% xuống 11,60%. Điều này xuất phát từ nguyên nhân giai đoạn 2012-2014, các DN Nhiệt Điện được hưởng lợi từ sự chênh lệch tỷ giá đối với các khoản vay ưu đãi nước ngoài, các DN Thuỷ điện gặp điều kiện thuận lợi về tình hình thời tiết, lưu lượng nước đổ về các nhà máy Thuỷ điện lớn làm cho sản lượng điện sản xuất gia tăng và việc sử dụng tài sản của các DN trong giai đoạn này đạt hiệu quả cao. Ngược lại, giai đoạn 2014-2016, sự bất lợi đến từ các khoản lỗ chênh lệch tỷ giá của các DN Nhiệt điện và tình hình hạn hán làm sụt giảm lưu lượng nước đổ vào các nhà máy Thuỷ Điện làm giảm sản lượng điện sản xuất. Trong khi đó, Rd bình quân ở mức thấp (Rd bình quân giai đoạn nghiên cứu là 3,97% và dao động từ 0,05% đến 4%) xuất phát từ việc các DN được vay các khoản vay ưu đãi quy mô lớn với lãi suất rất thấp đối với từng khoản vay. Đây là một khoản ưu đãi rất đặc biệt đối với các DN ngành điện niêm yết với lý do vì sự phát triển chiến lược đối với ngành điện, Chính phủ đã chỉ đạo tạo điều kiện ưu đãi để phát triển đối với các DN niêm yết ngành điện trong đó tạo điều kiện cho các DN này được vay vốn cả trong nước và ngoài nước với lãi suất rất ưu đãi. Bởi vậy, hiệu số (BEP-Rd) luôn dương và sự biến động của hiệu số này chủ yếu do sự biến động của BEP nên một mặt đòn bẩy tài chính hiện được khuyếch đại theo chiều hướng dương – hay nói cách khác việc sử dụng nợ vay đang làm khuyếch đại ROE và mặt khác mức độ khuyếch đại phụ thuộc vào độ lớn của BEP.

Bảng 2.3 cho thấy cơ cấu nguồn vốn tác động làm cho ROE gia tăng mạnh từ 10,54% năm 2012 lên 21,44% năm 2014 và giảm từ 21,44% năm 2014 xuống 16,74% năm 2017.

Nếu xét theo quy mô DN, nhận thấy: Rd ở mức thấp đối với nhóm CTCP quy mô lớn và quy mô trung bình (bình quân Rd lần lượt là 3,34% và 6,91%) và tương đối cao đối với nhóm CTCP quy mô nhỏ (bình quân là 14,04%). Tuy nhiên, hiệu số (BEP-Rd) luôn dương đối với cả 3 loại hình DN cho thấy đòn bẩy tài chính đang được khuyếch đại theo chiều hướng dương. Chiều hướng biến động của BEP ổn định nhất đối với nhóm CTCP quy mô trung bình (bình quân là 10,24%); gia tăng đối với nhóm quy mô nhỏ (từ 14,41% năm 2012 lên 18,66% năm 2017); đối với nhóm CTCP quy mô lớn: BEP gia tăng từ mức 5,30% lên 12,92% trong giai đoạn 2012-2014 và giảm từ 12,92% xuống 10,45% trong giai đoạn 2014-2017. Đối với nhóm CTCP quy mô lớn, ROE tăng mạnh trong giai đoạn 2012-2014 từ mức 7,62% lên 23,90% và giảm mạnh trong giai đoạn 2014-2017 từ mức 23,90% xuống 16,03%. Đối với nhóm CTCP quy mô nhỏ, ROE duy trì ổn định ở mức 15,93%.

Phân tích tác động của cơ cấu nguồn vốn đến tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu của các DN ngành điện niêm yết cho thấy: với lợi thế về việc sử dụng các khoản vay quy mô lớn với lãi suất rất thấp đã làm cho đòn bẩy tài chính của các DN được khuyếch đại theo chiều hướng dương. Qua phân tích tác động đối với cả 3 loại hình CTCP cũng cho thấy đòn bẩy luôn được khuyếch đại theo chiều hướng dương. Tuy nhiên, việc các DN có xu hướng giảm mạnh quy  mô nợ vay đặc biệt là nợ vay dài hạn của nhóm CTCP quy mô lớn cho thấy việc sử dụng đòn bẩy tài chính đối với các DN còn thiếu hiệu quả, chưa tận dụng được ưu thế của nợ vay trong việc gia tăng ROE, gia tăng hiệu quả hoạt động của DN.