Tác động của việc phát triển các KCN tới Nông nghiệp

1. Tác động của việc phát triển các KCN tới Nông nghiệp

Đến nay, việc xây dựng và phát triển các KCN ở nước ta những năm qua đã sử dụng 43.687 ha đất nông nghiệp (chưa kể diện tích đất xây dựng các khu kinh tế mở). Nếu tính cả phần diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng vào việc đô thị hoá xung quanh các KCN thì con số này còn cao hơn nhiều lần. Mặc dù diện tích canh tác nông nghiệp có giảm do phải dành một phần quỹ đất để xây dựng các KCN, song kinh tế nông nghiệp vẫn có sự phát triển liên tục với nhịp độ tăng trưởng từ 4,5%-5%. Năm 2007, sản lượng lương thực đạt 39.977 nghìn tấn, tăng 5.704 nghìn tấn so với năm 2001, bình quân mỗi năm tăng 950 ngàn tấn. Hàng năm nước ta vẫn xuất khẩu khoảng 3,5-4 triệu tấn gạo. Nhờ đó mà an ninh lương thực ở nước ta được bảo đảm.

Đạt được kết quả đó là do những năm qua các KCN đã thu hút được hàng ngàn dự án hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp hoặc sử dụng sản phẩm nông nghiệp như công nghiệp thực phẩm, nông-lâm-thuỷ sản; sản xuất phân bón, nông dược, thức ăn gia súc… Các dự án trên không chỉ trực tiếp đưa đến cho nông nghiệp Việt Nam nguồn vốn phát triển, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý mà còn gián tiếp, thông qua các mối quan hệ sản xuất, kinh doanh tạo ra những tác động lan truyền, thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Nhiều doanh nghiệp trong KCN đã đem vào Việt Nam nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế; tạo ra những mô hình làm ăn mới, có hiệu quả cao.

Tuy nhiên, xét một cách tổng thể, đến nay đóng góp của các KCN vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành nông nghiệp chưa thực sự lớn. Vai trò động lực, vai trò kích cầu của các KCN đối với ngành nông nghiệp chưa thể hiện rõ. Hầu hết các địa phương đều có những chương trình, mô hình khuyến khích sự hợp tác giữa nhà nông với doanh nghiệp trong KCN, nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng trên thực tế sự hợp tác này còn lỏng lẻo và chưa có hiệu quả. Các sản phẩm nông nghiệp được sản xuất ra không được các doanh nghiệp bao tiêu hết, thường xuyên trong tình trạng canh cánh nỗi lo “được mùa mất giá”; và ngược lại các sản phẩm công nghiệp phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp còn thiếu. Một số vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… vẫn phụ thuộc vào hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài.

Bên cạnh đó, việc phát triển các KCN ở nước ta thời gian qua mặc dù đã sử dụng một quỹ đất khá lớn đất nông nghiệp (chủ yếu là những nơi “đắc địa”), nhưng những tác động tích cực trở lại của các KCN đối với sự phát triển nông nghiệp là chưa tương xứng. Hay nói cách khác, lợi ích do phát triển KCN đem lại đối với nông nghiệp chưa xứng với chi phí (cả trước mắt và lâu dài) mà nông nghiệp phải hy sinh để xây dựng các KCN.

2. Tác động của việc phát triển KCN tới nông thôn

Một trong những mục tiêu quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là hiện đại hoá nông thôn. Trong quá trình thực hiện mục tiêu này, các KCN đóng vai trò rất quan trọng. Các KCN ở nước ta đã tạo nên một diện mạo nông thôn mới, mang lại văn minh đô thị, góp phần cải thiện đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội cho khu vực rộng lớn được đô thị hoá.

Tuy nhiên, có một thực tế là việc quy hoạch và xây dựng đồng bộ các khu dân cư, hệ thống hạ tầng kỹ thuật-xã hội gắn với các KCN chưa được chú trọng. Điều đó đã dẫn đến một hệ quả là các KCN đã góp phần đô thị hoá nông thôn nhiều hơn là hiện đại hoá nông thôn. Nhiều vấn đề xã hội nổi cộm như trật tự, an ninh, nhà ở, đời sống văn hoá…ở các vùng nông thôn vốn không được trù tính đầy đủ khi lập quy hoạch và đánh giá các tác động của KCN. Vì vậy, sau nhiều năm đổi mới, bộ mặt nông thôn nước ta nói chung, vùng xây dựng KCN nói riêng tuy đã khá hơn trước, nhưng vẫn chưa mang dáng dấp của một nông thôn trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Thêm vào đó, cùng với sự phát triển KCN, nông thôn nước ta bắt đầu đang phải đối mặt với vấn đề môi trường do các nhà máy thải ra. Các loại chất thải từ KCN không chỉ ảnh hưởng tới môi trường sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN mà tác hại hơn còn ảnh hưởng tới môi trường và đời sống nhân dân ở các khu vực xung quanh KCN. Theo tính toán, dự kiến khi các KCN đã lấp đầy, các doanh nghiệp thải ra một lượng chất thải lên tới 567.131 m3/ngày đêm. Đây thực sự là một khối lượng nước thải khổng lồ và là một thách thức lớn đối với các KCN trong công tác xử lý. Đó là chưa kể đến hàng chục vạn m3/ngày đêm nước thải sinh hoạt của người lao động trong các doanh nghiệp KCN