Tác động của việc phát triển KCN tới việc làm và đời sống nông dân

Theo số liệu thống kê, đến nay, các doanh nghiệp trong KCN đã thu hút trên 1 triệu lao động trực tiếp, và hàng triệu lao động gián tiếp. Tính bình quân 1 ha đất công nghiệp đã cho thuê thu hút 72 lao động. Nếu so với khả năng tạo việc làm thì những con số này chưa phải là lớn, và chưa tương xứng với tiềm năng. Nhưng điều quan trọng đáng nói ở chỗ: phần lớn những lao động này là lao động trẻ ở nông thôn (có đến 90% lao động có độ tuổi từ 18 cho đến 35), có khả năng nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật mới.

Việc mở mang các KCN không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mà còn góp phần đáng kể vào việc thực hiện xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập, ổn định đời sống cho người lao động ở nông thôn nước ta.

Tuy nhiên, việc phát triển các KCN tất yếu phải đi liền với việc thu hồi đất, mà chủ yếu là đất nông nghiệp của một bộ phận nông dân. Điều này đang đẩy hàng chục vạn nông dân rơi vào cảnh mất đất, mất việc làm và chưa tìm được việc làm mới. Trong số hơn 1 triệu lao động được thu hút vào làm việc trong các KCN, liệu có bao nhiêu phần trăm trong số đó là nông dân bị thu hồi đất và con em của họ! Điều này cũng dễ hiểu vì các doanh nghiệp KCN cần tuyển dụng lao động có trình độ, đã được đào tạo theo từng nghề nhất định, trong khi đó phần đông nông dân chỉ biết nghề làm ruộng, chăn nuôi ở trình độ thấp, hoặc nghề thủ công truyền thống; chưa có tác phong làm việc công nghiệp. Đây là một mâu thuẫn và là vấn đề xã hội phát sinh khá gay gắt hiện nay ở nông thôn, dẫn đến những điểm “nóng” về mặt xã hội cần phải giải quyết trong thời gian tới.

Việc thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất vừa mang tính chất kinh tế vừa mang tính chất xã hội lớn, phức tạp. Nếu chỉ giải quyết được mặt kinh tế của vấn đề mà lại làm trầm trọng thêm mặt xã hội thì hiệu quả kinh tế sẽ rất hạn chế, nếu không muốn nói là không thành công.

Con số thống kê cho thấy, hiện nay trung bình mỗi hộ nông dân có 1,5 lao động, việc thu hồi đất nông nghiệp và đất ở trong những năm qua đã tác động đến khoảng 950.000 lao động. Với một lượng lớn lao động như vậy, việc giải quyết việc làm gặp vô vàn khó khăn. Hầu hết các tỉnh đều thừa nhận, lượng lao động bị thu hồi đất nông nghiệp vào làm tại các khu công nghiệp có thể… đếm trên đầu ngón tay. Mặc dù các doanh nghiệp cũng có đăng tuyển dụng lao động, nhưng một lượng lớn lao động địa phương chỉ làm được một thời gian rồi lại bỏ.

Nguyên nhân một phần do các doanh nghiệp trả lương thấp (lao động phổ thông), một phần cũng phải kể đến một số doanh nghiệp “ma” lợi dụng sức lao động, yêu cầu người lao động thử việc 2-3 tháng với mức lương hoặc là thấp hoặc không trả lương khiến người lao động bỏ, ở nhà… còn hơn”.

Tuy nhiên, cũng phải kể đến, phần lớn lao động tại khu vực nông thôn hiện nay đều rơi vào độ tuổi đã khá cao, trên 35 tuổi. Do vậy, tâm lý trồng lúa đã ăn sâu, bén rễ, chuyện học nghề để chuyển đổi chẳng khác nào… đánh đố. Hơn nữa, để học những nghề đòi hỏi nhiều chất xám thì người nông dân khó tiếp thu, còn đào tạo nghề đơn giản thì doanh nghiệp không chấp nhận. Thành thử, những trường, trung tâm dạy nghề được mở tại những vùng có diện tích thu hồi đất nông nghiệp lớn rơi vào tình trạng “dở khóc, dở cười”. Nơi thì không đủ học viên vào học phải đóng cửa hoặc hoạt động cầm chừng, nơi thì hầu như toàn học viên từ các tỉnh khác, nơi khác về học.

Một thực trạng đáng buồn nữa, do trình độ hạn chế, sau khi bị thu hồi đất có tới 67% nông dân vẫn giữ nguyên nghề sản xuất nông nghiệp, 13% chuyển sang nghề mới và khoảng 20% khác không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định. Số nông dân bị thu hồi đất không tìm được công việc mới, quay lại làm nghề nông lại đối mặt với nỗi lo không có đất để cấy cày, rơi vào cảnh thất nghiệp… Đơn thuần, không có đất canh tác, lại không kiếm được công việc mới nên thu nhập của 37% số hộ nông dân bị thu hồi đất bị sụt giảm so với trước đây, và chỉ có 13% số hộ có thu nhập tăng hơn trước.

Thêm vào đó, những hộ nông dân giao đất để xây dựng các KCN, sau khi nhận được tiền đền bù hay hỗ trợ sử dụng chúng theo nhiều cách khác nhau. Có nhiều gia đình biết dùng số tiền đó để đào tạo lại chuyển đổi ngành nghề, nhanh chóng ổn định được cuộc sống và tạo tiềm năng để phát triển kinh tế lâu dài. Nhưng cũng có không ít gia đình sau khi nhận được tiền đền bù đã sử dụng không hiệu quả, tiêu xài hoang phí, chủ yếu dùng để xây nhà, mua sắm để sau một thời gian ngắn hết tiền, mất kế sinh nhai lâu dài, cuộc sống trở nên khó khăn hơn cả khi chưa bị thu hồi đất. Do đó, chuyện nhận tiền đền bù vài trăm triệu đồng nhưng chỉ sau 1-2 năm lại trở thành hộ nghèo.

Không chỉ nguy cơ thất nghiệp, nghèo đói đe dọa người nông dân bị mất đất sản xuất mà nó còn kéo theo nhiều hệ lụy khác. Chẳng hạn vấn đề an ninh nông thôn cũng bị xáo trộn đáng kể khi có một lượng lớn người thất nghiệp tại địa phương, cùng với một lượng lớn lao động từ các nơi khác đổ về….