Tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện giảm nghèo bền vững

Thứ nhất, đảm bảo tính minh bạch, công khai trong quá trình triển khai các chương trình, dự án, đặc biệt là công khai về mặt tài chính phục vụ mục tiêu của chương trình, dự án đó, bởi điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc tiếp nhận các thông tin của các cơ quan thực hiện quyền kiểm tra, giám sát cũng như cho phép đánh giá được triển khai, thực hiện các chính sách giúp GN của các đơn vị được phân công. Bên cạnh công khai thông tin, CQCT cũng cần xây dựng cơ chế nhằm gắn việc minh bạch hóa việc triển khai các chính sách với trách nhiệm giải trình của các cơ quan, chủ thể thực hiện chính sách GNBV cho vùng miền núi nói riêng, của tỉnh nói chung. Ngoài ra, việc công khai thông tin cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhân dân, những đối tượng thụ hưởng chính sách có thông tin để thực hiện quyền giám sát, khiếu nại, tố cáo khi phát hiện  được những sai phạm trong thực thi chủ trương, đường lối, chính sách, kế hoạch GNBV của các cấp (nhất là cấp cơ sở) trong quá trình thực hiện chính sách GN trên địa bàn, phòng và chống tham nhũng có hiệu quả.

Thứ hai, cần tăng cường mở rộng các thành phần tham gia quá trình thực hiện kiểm tra, giám sát, đăc biệt là sự hiện diện của các tổ chức đoàn thể, người dân ở vùng miền núi như già làng, trưởng bản, người có uy tín, đại diện của các hộ nghèo, người nghèo, nhằm tăng tính phản biện xã hội, tăng tai mắt cho các cơ quan quản lý cấp trên trong các hoạt động kiểm tra, giám sát thường xuyên tại hiện trường, nhờ vậy, mà có thể đảm bảo tính khách quan, hạn chế những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, bao che có thể xảy ra trong quá trình kiểm tra, giám sát. Một lợi ích nữa của việc tăng thành phần tham gia kiểm tra, giám sát chính là thông qua quá trình đó, giúp cơ quan quản lý cấp tỉnh có thể thu thập, tiếp thu nhiều ý kiến nhiều chiều, từ đó, có thể tìm kiếm được các biện pháp sáng tạo, bổ sung cơ chế thực hiện chính sách phù hợp hơn với điều kiện của vùng miền núi tỉnh Nghệ An bởi hơn ai hết, cộng đồng dân cư ở đây là những người trực tiếp thụ hưởng chính sách GN của tỉnh, chính họ mới biết được họ cần gì và những biện pháp GN đang được triển khai có thực sự phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đồng bào hay không. Nhờ vậy, những thông tin phản hồi quý giá này sẽ giúp các cơ quan hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện chính sách có những điều chỉnh thích hợp, mang lại kết quả tốt hơn cho toàn bộ quá trình thực hiện chính sách.

Thứ ba, CQCT cần có cơ chế và quy định nhằm gia tăng quyền hạn cho các chủ thể giám sát một cách rõ ràng và đầy đủ, tránh cản trở hoạt động giám sát và thông tin đến người dân. Đặc biệt, trong việc thực hiện chính sách GNBV, đối với các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vùng miền núi, cần tiến hành bổ sung quyền hạn cho các chủ thể trong việc thực hiện quyền giám sát đầu tư của cộng đồng.  Bên cạnh  đó,  CQCT cũng cần có những biện pháp và điều chỉnh, chỉ đạo bổ sung, hoàn thiện cơ chế nhằm bảo đảm cho các chủ thể thực hiện cung cấp thông tin để có đủ cơ sở dữ liệu làm căn cứ, cơ sở cho việc giám sát GN ở địa phương. Mặt khác, cũng cần quy  định rõ phạm vi giám sát của các chủ thể (là cơ quan quản lý nhà nước, giám sát cộng đồng, giám sát của người dân…) đối với từng loại dự án, từng hợp phần cụ thể trong chương trình GN dành cho vùng miền núi.

Thứ tư, hoạt động kiểm tra,  giám sát phải được  thực hiện một cách thường  xuyên, định kỳ hàng năm. Đặc biệt, đối với các chính sách GNBV đang triển khai trên vùng miền núi thường có thời gian kéo dài,  vì vậy, không gây tác động ngay lập tức.   Vì thế, thông thường các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh có thể tiến hành đánh giá sau khoảng 3 năm kể từ khi chính sách đó đi vào thực hiện, nhằm xem xét tính hợp lý, đúng đắn của chính sách, có thể bổ sung, điều chỉnh chính sách nếu thấy cần thiết. Một điểm nữa cũng cần lưu ý, việc kiểm tra,  giám sát thực hiện chương  trình GNBV  vùng miền núi, đặc biệt, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản cần  được tiến hành cả trước, trong và sau khi đầu tư, đưa công trình vào sử dụng nhằm tránh hiện lượng  lãng phí sau đầu tư.

Thứ năm, cần tăng cường cơ chế, chế tài xử lý các vi phạm trong thời gian thực  thi chính sách GNBV vùng miền núi. Các chế tài này cần phải có sức răn đe các hành   vi sai phạm. Cần tăng cường cơ chế tự chịu trách nhiệm đối với lãnh đạo và cán bộ    phụ trách GNBV. Nếu như địa phương, đơn vị nào để xảy ra các vấn đề tiêu cực, gây thất thoát lãng phí, sử dụng không hiệu quả các nguồn vốn GN, không hoàn thành kế hoạch được giao thì người đứng đầu các đơn vị triển khai thực hiện phải chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân tỉnh. Bên cạnh chế tài xử phạt,  cũng cần có quy  chế  khen thưởng tương ứng cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tham gia tích cực vào phong trào GNBV vùng miền núi. Thông qua các kỳ sơ kết, tổng kết chương trình GN, các huyện, xã và tỉnh tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm, nhân rộng điển hình và tổ chức khen thưởng cho các cá nhân, tập thể xuất sắc trong công tác GNBV vùng miền núi tỉnh Nghệ An, làm gương cho các địa phương, các đơn vị khác trong toàn tỉnh, tạo nên phong trào thi đua rộng khắp.