Tăng cường nội dung trách nhiệm xã hội đảm bảo quyền và lợi ích đối với ngƣời lao động của các doanh nghiệp may Việt Nam

Người lao động của các doanh nghiệp may Việt Nam

Các DN may thực hiện tốt TNXH đảm bảo quyền và lợi ích giúp DN hòa mình trong mái nhà quốc tế, thực hiện tốt “luật chơi” trong TMQT. Tăng cường nội dung TNXH đối với NLĐ của các DN cần được thực hiện theo nguyên tắc phát huy những mặt tích cực và đặc biệt là đẩy lùi những hạn chế trong đảm bảo quyền, lợi ích cho NLĐ trong thời gian tới. Các giải pháp thiết thực được đề xuất bao gồm:

Nghiêm chỉnh thực thi trách nhiệm về hợp đồng lao động

  • Tuân thủ việc các điều khoản đảm bảo quyền trong HĐLĐ tại các DNNVV

Hợp đồng lao động là “xương sống” của PLLĐ, là một thỏa thuận, thể hiện sự thống nhất ý chí giữa NSDLĐ và NLĐ về điều kiện lao động có tính ràng buộc pháp lý với các cam kết. Do vậy các DNNVV cần phải thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản đảm bảo quyền của NLĐ trong HĐLĐ. Các điều khoản đảm bảo quyền cho NLĐ trong HĐLĐ là những chi tiết quan trọng nhất cấu tạo nên HĐLĐ. Đây là phần mang tính chất quyết định tới chất lượng của QHLĐ giữa các bên. Các điều khoản đảm bảo quyền căn cứ vào quy định tại điều 23 Bộ luật lao động 2012 (xem Hộp 5- phụ lục 11).

Nhiều DN may luôn đi tìm câu hỏi làm thế nào để thực hiện TNXH đối với NLĐ tốt hơn? Vậy, hãy chủ động thực hiện các quy định về đảm bảo quyền ghi nhận trong HĐLĐ. Đây là nội dung cốt lõi, là cam kết sát sườn nhất để thực hiện TNXH đảm bảo quyền cho NLĐ. Ngoài các điều trên thì công việc mà các DN may cũng nên làm luôn là nên thể hiện rõ các điều khoản đảm bảo quyền trong HĐLĐ với các chi tiết cụ thể hơn về quá trình tăng lương, các thiết bị bảo vệ cá nhân được sử dụng, tiền lương làm thêm giờ, chi tiết về hình thức thanh toán tiền lương và bảng lương.

  • Tăng cường các điều khoản đảm bảo lợi ích trong HĐLĐ tại các DN

Để đáp ứng yêu cầu trong TMQT do khách hàng đặt ra thì các DN may kể cả các DN lớn, DNNVV phải thực hiện tốt các CoC về lao động như: SA 8000, WRAP, OSHAS 18001. Trong các bộ CoC này ngoài TNXH đảm bảo quyền thì TNXH đảm bảo lợi ích cho NLĐ rất được coi trọng. Vì vậy, các DN may phải có các điều khoản đảm bảo lợi ích cho NLĐ trong HĐLĐ như: Đảm bảo tính tự nguyện về thời gian làm thêm; chăm sóc sức khỏe nâng cao, đảm bảo cung cấp bữa

ăn đủ dinh dưỡng, hợp vệ sinh; tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao cho NLĐ; Cung cấp phòng tập thể dục, dịch vụ giải trí, bảo hiểm nhân thọ, trả mức lương cạnh tranh; tăng lương theo định kỳ; hỗ trợ nhà ở, hỗ trợ tiền nuôi con nhỏ, tiền gửi nhà trẻ… Đặc biệt đối với NLĐ trên 35 tuổi khi sức khỏe độ nhạy bén suy giảm. Các DN cần có cam kết thường xuyên đào tạo bồi dưỡng mở rộng, nâng cao tay nghề để NLĐ được trang bị những năng lực, kỹ năng cần thiết để có thể ứng phó với “cú sốc” bị sa thải khi tuổi trên 35. Đây là những điều khoản đảm bảo lợi ích thiết thực, là quả ngọt mà các DN may dù ở quy mô nào cũng nên tạo ra để NLĐ bền lực, vững trí, đam mê công việc hơn cũng như cống hiến nhiều hơn cho các DN.

Tuân thủ nội dung trách nhiệm xã hội đối với người lao động về giờ làm việc

  • Đảm bảo thời gian làm việc đúng cam kết tại các DNNVV

Thị trường lao động của các DN may đã và đang vận hành và tuân theo nguyên tắc thị trường. Điều đó có nghĩa là lao động tự do “vào” và “ra” thị trường, tự do “ra” và “vào” DN. Mà tại các DN may tỷ lệ biến động lao động lại khá cao do nguyên nhân một phần là các DNNVV chưa thực hiện đúng thời gian làm việc theo cam kết. Thực hiện tốt cam kết thời gian làm việc với toàn bộ NLĐ trong DN cũng như: với công nhân vận hành lò hơi từ sáng sớm để vận hành máy thường ngày mất từ 15 – 30 phút sớm hơn thời gian làm việc so với cam kết; với NLĐ nữ trong thời gian hành kinh, trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng. Đặc biệt chấm dứt tình trạng “sổ kép” ghi thời gian làm việc. Tuân  thủ thời gian làm việc đúng cam kết   tại các DN may nhỏ và vừa là một quy luật tất yếu để NLĐ tái sản sinh sức lao động, tập trung tăng năng suất chất lượng công việc, nâng cao hiệu quả  kinh  doanh, khơi gợi khả năng sáng tạo và hăng say lao động, gắn bó với các DN may của NLĐ cũng như thực hiện tốt TNXH đảm bảo quyền trong PLLĐ hiện hành.

  • Tuân thủ số giờ làm thêm theo tháng, năm đúng quy định tại các DN

Về lâu dài các DN may phải thực hiện quy định của PLLĐ về giờ làm thêm của NLĐ hiện ở mức 200 giờ/năm, trường hợp đặc biệt mới được phép là 300 giờ/năm. Tuy nhiên mức quy định “cứng” như vậy khiến nhiều DN may gặp khó, nhiều khi không kịp sản xuất và NLĐ cũng bị ảnh hưởng thu nhập do thời gian làm thêm giờ không cao. Trước mắt, theo nhiều chuyên gia lao động: “Làm thêm giờ là hiện tượng phải chấp nhận với các DN may” (xem hộp 6- phụ lục 11). Song không thể lấy thực trạng để biện hộ cho nguyên nhân làm thêm giờ liên tục và lợi dụng làm thêm giờ, biến làm thêm giờ từ “giải pháp tình thế” thành hoạt động thường ngày, chủ yếu của các DN may. Bởi tăng giờ làm thêm chỉ có ý nghĩa cơ học, tăng số lượng sản phẩm nhưng năng suất lao động chưa chắc đã tăng. Pháp luật lao động nên điều chỉnh số giờ làm thêm theo tháng và theo năm giống như một số nước trong khu vực Châu Á. Việc xem xét dựa vào những quan điểm tiến bộ, khoa học về vấn đề đảm bảo số giờ làm thêm của NLĐ. Đồng thời phải căn cứ vào điều kiện sức khỏe của NLĐ, theo bà Nguyễn Ngọc Ngà – Phó chủ nhiệm Hội Y học lao động Việt Nam (2017): “Các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rất rõ ràng làm thêm giờ ảnh hưởng đến sức khỏe lâu dài của NLĐ, nhất là các vấn đề về tim mạch, phơi nhiễm nghề nghiệp…” Đặc biệt tại các DN may đa số là NLĐ nữ họ cần có thời gian chăm lo cho gia đình, NLĐ chưa có gia đình cần điều kiện, thời gian gặp gỡ kết thân tìm hiểu bạn đời. Tuy nhiên, một số trường hợp bất khả kháng, phải tổ chức làm thêm giờ có thể thông cảm, song các DN may phải chú ý hai điều: một là tuân thủ pháp luật; hai là chú trọng “tình và lý” trong sử dụng lao động. Làm thêm giờ phải đảm bảo nguyên tắc “thỏa thuận”, không được ép buộc. Thời giờ làm thêm cần căn cứ vào điều kiện của NLĐ và tính chất công việc, không nên vượt quá 2 giờ/ngày. DN cần công khai, minh bạch định mức, thời gian, sản lượng mà NLĐ làm được trong quá trình làm thêm giờ tại các DN.

  • Đảm bảo tính tự nguyện về thời gian làm thêm tại các DN

Làm thêm giờ ở mức hợp lý để thực hiện lộ trình đảm bảo chất lượng cuộc sống cho NLĐ. Vì thế tại các DN may nên tăng tính tự nguyện về thời gian làm thêm đặc biệt là đối với NLĐ nữ theo Nghị định 85/2015/NĐ-CP: “Tạo điều kiện để lao động nữ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt”. Vấn đề đặt ra là tự nguyện làm thêm giờ với giới hạn bao nhiêu là hợp lý bởi như trong SA8000 của Mỹ thì giới hạn làm thêm giờ tối đa 12 giờ/tuần không cho phép làm thêm liên tục, dồn dập (vì tính bình quân mỗi ngày chỉ làm thêm 2 giờ; hoặc chỉ có 3 ngày làm thêm tối đa đến 4 giờ/ngày trong mỗi tuần). Tự nguyện làm thêm giờ là thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ. Do đó, có nâng thời gian làm thêm cũng là nâng khung thỏa thuận giữa 2 bên bởi ngay các công ước của ILO cũng không có khuyến nghị không thỏa thuận tăng giờ làm thêm. Mặt khác, hơn bao giờ hết làm thêm giờ sẽ tăng thu nhập của NLĐ cho nên các DN may cần trao đổi trực tiếp, thẳng thắn vấn đề này với NLĐ để họ tự nguyện ký vào đơn làm thêm giờ nhưng không vì thế mà lạm dụng quá mức. Theo bà Angie S.W Phang – Tổng giám đốc JobStreet.com: “Làm thêm quá mức NLĐ sẽ bị áp lực, mệt mỏi, thiếu động lực, nghỉ việc đồng loạt, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và lợi nhuận của DN”. Vì vậy, đối với các DN may việc làm thêm giờ không phải là chiến lược lâu dài ngay cả khi NLĐ tự nguyện làm.

Tăng cường trách nhiệm về an toàn vệ sinh lao động và sức khỏe nghề nghiệp

  • Giải quyết triệt để hiện tượng bị vướng hoặc bị khóa các lối thoát hiểm khẩn cấp trong giờ làm việc tại các DN

Hiện nay một số CoC quốc tế về lao động đã đề cập khá rõ về vấn đề ATVSLĐ như: DN cần  có cam kết của lãnh đạo về vấn đề đảm bảo ATVSLĐ,  đảm bảo một môi trường làm việc an toàn, lành mạnh để phòng ngừa những tai   nạn và thương tích có hại đến sức khỏe NLĐ, phải có các biện pháp tích cực để ngăn ngừa tại nạn lao động và hạn chế việc gây tổn hại đến sức khỏe NLĐ. Các  DN cần xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm giảm thiểu các nguyên nhân gây nguy hiểm trong môi trường làm việc.

An toàn vệ sinh lao động và sức khỏe nghề nghiệp là điều kiện cần để các DN may “khởi động” quá trình sản xuất, kinh doanh của mình. Cho dù đặc thù ngành may mặc là quy mô hoạt động, số lượng lao động lớn cộng với việc nhà xưởng chứa nhiều hàng hóa, vật liệu dễ cháy như vải vóc, sợi, chỉ… thì các lối thoát hiểm phải không để bị vướng hoặc bị khóa các lối thoát hiểm khẩn cấp trong giờ làm việc tại các DN may. Đây là một trong những biện pháp “cấp thiết” mà các DN may phải thực hiện ngay để đảm bảo ATVSLĐ và sức khỏe trong quá trình làm việc.

  • Tăng cường các chương trình chăm sóc sức khỏe nâng cao tại các DN

Các DN may cần tăng cường các chương trình chăm sóc sức khỏe nâng cao đầu tư hơn nữa về kinh phí cho việc cung cấp các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe nâng cao lao động cho NLĐ nhằm tăng cường chất lượng thể chất của NLĐ. Tăng cường giám sát việc thực hiện các quy định về ATVSLĐ; Đối với đội ngũ tập thể cán bộ chăm sóc sức khỏe cho NLĐ tại bộ phận Y tế của DN bên cạnh việc nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, nhất là đội ngũ y, bác sĩ thì cần tập trung thực  hiện   tiêu chí “5 biết, 3 cần”. Đó là: phải biết vui vẻ, ân cần, lắng nghe, chia sẻ, thông cảm với người bệnh. Các DN may cần phải kết hợp với Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, trung tâm y tế dự phòng triển khai nhiều biện pháp truyền thông về sức khỏe sinh sản, dân số đến NLĐ nữ. Bộ phận y tế của  DN tiến hành tư vấn,  cung cấp dịch vụ dân số – kế hoạch hóa gia đình, các bệnh phụ nữ… để đảm bảo “độ bao phủ sâu” sau các buổi tư vấn cũng như các DN may tổ chức hội thi tìm  hiểu sức khỏe sinh sản, chăm sóc nuôi dạy con cái cho lao động nữ.

Ngoài ra, để thực hiện chăm sóc sức khỏe nâng cao cho NLĐ các DN may nên hướng đến một số nội dung thiết thực, phù hợp với năng lực của các DN này như: Cung cấp phòng vắt sữa, phòng thể dục, thể thao, dịch vụ giải trí, chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm nhân thọ. Hiện nay, tại các DN may hiện nay để tăng năng suất lao động cần NLĐ khi vào việc phải đảm bảo sức khỏe để có thể năng động, sáng tạo, triển khai đúng các kỹ thuật chuyên môn, tạo ra hiệu quả lao động cao nhất, tránh nguy cơ mất an toàn lao động đến mức thấp nhất. Như vậy, đảm bảo tăng cường các chương trình chăm sóc sức khỏe nâng cao sẽ mang lại lợi ích kép cho cả NLĐ và cả DN.

  • Đa dạng các hoạt động văn hóa, thể thao cho NLĐ tại các DNNVV

Lãnh đạo DNNVV nên phối kết hợp hợp với Công đoàn cơ sở nhân rộng mô hình “Ngày hội lao động” để tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao thiết để kết nối, khích lệ cũng như tỏ lòng cảm ơn NLĐ, các hoạt động điển hình như: Tổ chức giải bóng đá, thi kéo co, giao lưu văn nghệ; trao thưởng cho các tập thể và cá nhân tiêu biểu xuất sắc; tổ chức “bốc thăm trúng thưởng” cho NLĐ với nhiều hiện vật   có giá trị như xe máy, tivi, tủ lạnh, máy giặt…

Thực hiện tặng quà NLĐ vào sinh nhật, kết hôn, 8/3, 20/10. Để tạo mối quan hệ khăng khít, thân thiện giữa DN và NLĐ, NLĐ và NLĐ có thể tổ chức sinh nhật tập thể, liên hoan văn nghệ, sáng tác thơ, thi cắm hoa, nấu ăn, hội khỏe công nhân, tập thể dục giữa giờ. Những hoạt động này nên tổ chức rộng khắp, sôi nổi, để thu hút đông đảo NLĐ tham gia, tạo nên sân chơi bổ ích trong các DN may, giúp NLĐ không chỉ rèn luyện sức khỏe, cải thiện đời sống tinh thần, mà còn là dịp để NLĐ thể hiện năng khiếu của bản thân, phát huy tinh thần làm việc tập thể, giúp NLĐ thấu hiểu và gắn kết với nhau hơn, hăng say làm việc, gắn bó với nghề.

Các DN may nên xây dựng mô hình câu lạc bộ đời sống công nhân hay tổ chức các diễn đàn, tuyên truyền về phòng chống bạo lực gia đình, tổ chức đám cưới tập thể, hỗ trợ vay vốn phát triển kinh tế gia đình, tổ chức chăm lo cho NLĐ nhân các dịp Tết cổ truyền, tổ chức trại hè, biểu dương, khen thưởng cho con em NLĐ để phần nào động viên những lao động nữ di cư đã có gia đình thì gặp nhiều khó khăn trong chăm sóc nuôi dạy con, còn với NLĐ nữ trẻ trẻ chưa có gia đình thì ít có điều kiện, thời gian gặp gỡ, tìm hiểu bạn đời. Những NLĐ nữ này do tuổi đời còn trẻ, sống xa gia đình, thiếu thốn tình cảm, nhận thức, hiểu biết về các vấn đề xã hội còn hạn chế, đặc biệt là các kỹ năng sống, kỹ năng ứng phó với các tình huống nảy sinh trong cuộc sống như tình yêu, tình bạn, giữ gìn hạnh phúc gia đình, vấn đề nuôi dạy con chưa theo những khuôn mẫu truyền thống do NLĐ di cư tự do.

Đảm bảo trách nhiệm xã hội đối với người lao động về lương và phúc lợi

  • Đảm bảo tiền lương làm thêm ngày thường và ngày nghỉ theo đúng pháp luật lao động của các DNVVV

Đảm bảo trả lương làm thêm vào ngày thường và ngày nghỉ đúng PLLĐ là một trong những liều thuốc cần thiết để “trị tận gốc” căn bệnh mãn tính khát lao động của các DN may đặc biệt là DNNVV. Bản thân NLĐ chỉ mong muốn công việc ổn định và thu nhập cao vì vậy họ liên tục theo chân nhau bỏ việc, nhảy việc. Một hệ quả là các DN may thường phải đối mặt với rất nhiều khó khăn khi tuyển dụng mới thậm chí dùng nhiều chiêu trò để “câu kéo” lao động giỏi, lành nghề từ các DN may khác. Thu nhập làm thêm giờ và tiền lương vào ngày nghỉ giúp cho NLĐ đảm bảo chất lượng cuộc sống và trước mắt là có lợi cho cả các DN. Một minh chứng là từ một DN may được ILO & IFC (2017) điều tra về tình trạng làm thêm giờ của NLĐ (xem hộp 6-phụ lục 11). Như vậy các DNNVV đảm bảo trả lương làm thêm làm thêm vào ngày thường và ngày nghỉ đúng PLLĐ sẽ giúp các DN nâng cao hiệu quả kinh doanh đồng thời có được lao động nhiệt thành, đồng hành bền lâu với DN.

  • Chấm dứt việc không đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đúng quy định của pháp luật tại các DNNVV

Lao động tại các DN may chủ yếu là NLĐ nữ. Họ thiếu thốn đủ bề, từ nhà trọ đến thời gian nghỉ ngơi, các thiết chế văn hóa… Trong khi đó, nhiều DN may nhỏ và vừa tìm mọi cách lách luật “chây ỳ” không đóng BHXH, BHYT đúng quy định của pháp luật ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của NLĐ, ảnh hưởng xấu đến quan  hệ lao động cũng như vi phạm các quy định của PLLĐ trong các nội dung này. Theo Ông Mai Đức Chính – Phó chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động, (2018): “Đến lúc DN bỏ trốn thì xử lý quyền lợi người lao động ra sao? Trong khi đó, BHXH theo nguyên tắc không đóng thì không chi”. Bên cạnh đó, trong hội nhập TMQT  thì tính quốc tế về quan hệ lao động cũng như thực hiện TNXH về BHYT, BHXH  là vấn đề mà mọi quốc gia, mọi DN phải thực hiện. Đây là một trong những giải pháp để chấm dứt tình trạng đình công, tranh chấp lao động làm thiệt hại cho cả NLĐ, cho các DN và gây nhức nhối lớn cho toàn xã hội, tác động xấu đến chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai.

  • Lựa chọn trả lương cao hơn quy định trong các DNNVV

Trả lương cạnh tranh là một vũ khí sắc bén để kích thích NLĐ làm việc hăng say hơn hiệu quả hơn. Trả lương cạnh tranh và thu hút, giữa chân được lao động chất lượng cao, lao động lành nghề là một quan hệ có tính quy luật. Điều này không có gì phải tranh cãi trong điều kiện kinh tế của NLĐ còn eo hẹp. Mỗi ngành nghề có tính chất phức tạp về kỹ thuật khác nhau, do đó NLĐ có trình độ lành nghề cao hơn, làm việc các công việc phức tạp hơn, trong các điều kiện khó khăn và nặng nhọc hơn thì chắc chắn phải được trả công cao hơn. Các DN may nhỏ và vừa nên xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến trả lương cạnh tranh như: xã hội và thị trường lao động, bản thân công việc, bản thân NLĐ và các yếu tố bên trong DN. Tùy vào hoạt động kinh doanh của DN trong từng giai đoạn để trả lương cạnh tranh nhưng là phương cách tối ưu để giải bài toán thiếu về “lượng và chất” của lao động tại các DN may vừa và nhỏ.

  • Trả phụ cấp, trợ cấp cao hơn quy định tại các DNNVV

Tại các DNNVV phụ cấp lương được trả khi NLĐ phải hao phí sức lao động thêm khi giữ một cương vị nào đó, hoặc làm việc trong điều kiện lao động không bình thường nhằm mục đích tái sản xuất sức lao động. Để thực hiện tốt TNXH đảm bảo lợi ích thì việc trả phụ cấp cao hơn quy định để cải thiện chất lượng cuộc sống của NLĐ, tái sản xuất sức lao động khi NLĐ giữ một cương vị nào đó tại các DN. Các chế độ phụ cấp cao hơn quy định như: phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp lưu động…; Các khoản trợ cấp cao hơn quy định có thể kể đến: trợ cấp y tế, trợ cấp giáp dục, trợ cấp đi lại, trợ cấp ăn ở, trợ cấp xa nhà. Bởi vì đa phần lao động tại các DN may có trình độ thấp, là chủ yếu là lao động nữ. Chất lượng và điều kiện sống của họ còn không mấy thuận lợi. Tuy nhiên, tại các DNNVV do điều kiện tài chính còn hạn hẹp nên “liệu cơm chan mắm”, chi trả trợ phụ cấp, trợ cấp cao hơn quy định cần được tính toán, xây dựng và thực hiện theo lộ trình hợp lý.

  • Hỗ trợ nhà ở cho cho người lao động tại các DN

Phát biểu khai mạc Hội nghị trực tuyến toàn quốc về xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân tại Hà Nội (2016), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh: “xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân phải được coi là đầu tư cho phát triển, chứ không phải đầu tư tiêu dùng bình thường”. Vấn đề này đã được các DN may lưu tâm. Song hỗ trợ nhà ở cho NLĐ là một bài toán chưa có lời giải thỏa đáng tại nhiều DN may với rất nhiều các lý do mà DN gặp phải như: phức tạp về thủ tục hành chính, khó tiếp cận với quỹ đất, vướng mắc trong đền bù giải phóng mặt bằng, thiếu các ưu đãi, khuyến khích đầu tư từ phía Nhà nước… đặc biệt là lợi nhuận của nhiều DN may rất “mỏng” nên làm sao để xây dựng được một căn hộ công nhân giá rẻ luôn là bài toán gian nan ?. Do vậy, để tháo gỡ vấn đề này cần có sự chia sẻ, giúp đỡ của địa phương, các Bộ, Ban ngành, Nhà nước từ ngắn hạn đến dài hạn:

+ Trong ngắn hạn các DN may chưa có nhà ở cho NLĐ nên có chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà hàng tháng cho NLĐ. Tùy theo năng lực, kết quả hoạt động kinh doanh để DN có thể thuê nhà ở cho NLĐ xa nhà hoặc các DN may hỗ trợ từ 30% – 70% tiền thuê hàng tháng tính theo giá bình quân thuê nhà trên địa bàn DN hoạt động để NLĐ đặc biệt là NLĐ nữ di cư đẩy lùi tình cảnh “thiếu thốn đủ bề”.

+ Trong dài hạn các DN may nên xin sự hỗ trợ của các Bộ ban ngành, đơn vị quản lý liên quan để mua đất với giá ưu đãi hoặc thuê đất dài hạn có thể là 30 năm – 50 năm để xây dựng nhà ở cho NLĐ. Bên cạnh đó ứng dụng một số mô hình nhà ở cho NLĐ trong điều kiện tối thiểu hóa chi phí điển hình như Công ty Địa ốc Đất Lành, từng giới thiệu mô hình nhà ở công nhân giá rẻ, chỉ dưới 2,7 triệu đồng/m2 đang rất nhiều DN và giới chuyên môn đánh giá cao. Do áp dụng khoa học kỹ thuật trong thiết kế và thi công để giảm giá thành, DN đã sử dụng móng công trình hiệu quả tránh lãng phí, những chỗ đất tốt có thể sử dụng móng trên nền đất tự nhiên thay vì móng cọc, tiết giảm hơn 60% chi phí xây dựng móng. DN còn có ý tưởng, triển khai xây dựng các đại công trường, trạm bơm bê tông, sản xuất gạch tại chỗ, cửa ra vào, tủ, bếp… để giảm chi phí vật liệu và vận chuyển. Quá trình này sử dụng vật liệu có chất lượng không cao, nhưng vẫn đáp ứng được mức độ tiện nghi tối thiểu.

Ngoài ra, các DN may kể cả DN lớn, DNNVV nên tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khóa. Đây là trong những chính sách “vàng” được nhiều DN, các tổ chức Công đoàn áp dụng nhằm khích lệ tinh thần cho NLĐ sau những ngày làm việc căng thẳng. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa hè tùy theo kinh phí của DN để có thể tổ chức đi gần hay đi xa. Thậm chí có những địa điểm ngay gần nơi DN hoạt động để tổ chức một cách thuận lợi. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa là một cách thư giãn, xả stress hiệu quả nhất đối với NLĐ. Qua mỗi chuyến đi, NLĐ thêm nhiệt huyết với công việc, yên tâm lao động, sản xuất, tin tưởng vào sự lãnh đạo của DN mình hơn. Như vậy, chăm lo tới đời sống, đảm bảo các chế độ đãi ngộ cho NLĐ mới chính là sợi dây vô hình gắn kết chắc nhất để níu chân NLĐ nỗ lực cống hiến, mang lại sự thành đạt cho các DN may. Bởi thế tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho NLĐ chính là “món ăn tinh thần” cần được các DN may chú trọng và nhân rộng.

Tuân thủ trách nhiệm về tự do hiệp hội và thương lượng tập thể

  • Tạo điều kiện cho Công đoàn hoạt động tại các DN

Lãnh đạo tại các DN may luôn phải chủ động nâng cao nhận thức về quan hệ lao động. Từng bước tạo điều kiện cho công đoàn cơ sở hoạt động, cụ thể được tham gia: trong lĩnh vực tiền lương, tiền thưởng của NLĐ, xây dựng và thực hiện các cơ chế quản lý mới, quản lý vật tư, kỹ thuật, tài chính nhằm giảm mức tiêu hao trên một đơn vị sản phẩm, xây dựng và thực hiện các chế độ, chính sách liên quan đến NLĐ, tổ chức đại hội công nhân viên chức, lao động hàng năm…. Hàng năm Công đoàn cơ sở nên phối hợp với lãnh đạo các DN may có thể tổ chức phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo” động viên NLĐ rèn luyện tay nghề, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, phát huy sáng kiến thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh cho DN và cải thiện thu nhập cho NLĐ. Các DN may tạo điều kiện để công đoàn cơ sở thường xuyên tập huấn để cập nhật về “Kiến thức pháp luật và thực hiện chế độ chính sách mới với NLĐ”. Từ đó NLĐ hiểu được TNHX đảm bảo quyền, lợi ích cho NLĐ và nghĩa vụ của mình. Đồng thời các DN may tạo điều kiện, hạn chế đến mức tối đa cán bộ công đoàn cơ sở kiêm nhiệm nhiều công việc. Hỗ trợ họ về kiến thức, kỹ năng trong hoạt động Công đoàn để tổ chức này trở thành đại diện thực sự có uy tín của NLĐ.

  • Tham khảo ý kiến Công đoàn về đảm bảo lợi ích cho NLĐ tại các DN

Công đoàn có vai trò quan trọng gắn kết NLĐ và NSDLĐ. Đặc biệt tổ chức này có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ đã được quy định trong các văn bản pháp luật như: Hiến pháp, Bộ luật lao động, Luật công đoàn và các văn bản hướng dẫn thi hành. Ý kiến của Công đoàn là đại diện cho bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ. Do vậy các DN may nên tích cực, chủ động tham khảo công đoàn về  đảm bảo lợi ích cho NLĐ về: các điều khoản đảm bảo lợi ích cho NLĐ, tính tự nguyện về thời gian làm thêm, hóa đổi/thưởng thời gian nghỉ phép, cung cấp bữa  ăn dinh dưỡng hợp vệ sinh, chương trình chăm sóc sức khỏe nâng cao, tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, khuyến khích, tạo điều kiện để NLĐ tham gia hoạt động tuyên truyền về ATVSLĐ, trả lương cạnh tranh, tăng lương định kỳ, trả phụ cấp, trợ cấp cao hơn quy định, hỗ trợ nhà ở cho NLĐ, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, TƯLĐTT có điều khoản tốt hơn Luật… Bên cạnh đó, các DN may cần tiếp tục đổi mới, phát triển mối quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau với công đoàn để công đoàn thực hiện tính chất “bắc cầu” giữa người NLĐ và NSDLĐ, xây dựng quan hệ lao động lành mạnh, hài hòa, tiến bộ trong các DN này.

  • Ký kết TƯLĐTT có các điều khoản tốt hơn Luật tại các DN

Tại một số DN may TƯLĐTT sao chép lại nội dung các điều khoản trong Bộ luật lao động như: Những ngày nghỉ lễ trong năm, chế độ nghỉ phép năm, thời giờ làm việc, thời gian chấm dứt HĐLĐ… không có gì khác so với PLLĐ đã quy định nhưng vẫn đưa vào làm cho bản TƯLĐTT. Có khá nhiều DN trong thực tế đã thực hiện các quy định có lợi cho NLĐ so với PLLĐ nhưng không đưa vào TƯĐTT nhằm tránh sự ràng buộc của pháp luật. Đây là một thực trạng khiến cho chất lượng TƯLĐTT còn nhiều bàn cãi. Để khắc phục tình trạng này cần ký kết TƯLĐTT có các điều khoản tốt hơn Luật để thực thi TNXH đảm bảo lợi ích cho NLĐ.

Thực hiện ký TƯLĐTT góp phần điều hòa lợi ích, tạo ra những điều kiện cho sự gắn bó chặt chẽ giữa NLĐ và NSDLĐ. Để TƯLĐTT phát huy hết vai trò của nó thì các DN cần ký kết TƯLĐTT có các điều khoản tốt hơn Luật. Nội dung TƯLĐTT cần phải cụ thể, “mổ xẻ” càng chi tiết về các điều khoản tốt hơn Luật thì càng có lợi hơn cho NLĐ, hai bên không có sự chia sẻ thì không mang lại kết quả. Những bản TƯLĐTT có điều khoản tốt hơn Luật chính là TNXH đảm bảo lợi ích như: đảm bảo tính tự nguyện về thời gian làm thêm đặc biệt là đối tượng NLĐ nữ, trả lương cạnh tranh, trả phụ cấp trợ cấp cao hơn quy định, chương trình chăm sóc sức khỏe nâng cao, chăm sóc sức khỏe sinh sản, bệnh nghề nghiệp cho lao động nữ, tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao… cho NLĐ nữ xa nhà sau những giờ làm việc căng thẳng, mệt nhọc. Cùng với đó, các DN cần nhận thức rõ trách nhiệm để có các điều khoản đảm bảo về: thăm quan, nghỉ mát, hỗ trợ nhà ở, nhà trẻ cho lao động nữ, những công trình phúc lợi, mua bảo hiểm nhân thọ… để đời sống của NLĐ tại các DN may nói chung và NLĐ nữ nói riêng được chú trọng toàn diện.

Thêm vào đó, tại các DN may nên tìm được tiếng nói chung trong thương lượng tập thể. Tiến hành thương lượng theo Nghị định 60/2013/NĐ- CP một cách rộng khắp thì tìm được tiếng nói chung trong thương lượng tập thể để thực hiện quy chế dân chủ tại các DN may là hành động này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng quan hệ lao động êm ấm, ổn định tại các DN may. Trên cơ sở đó đảm bảo quyền và lợi ích với đội ngũ lao động, hạn chế tình trạng “mãi ăn đong” về lao động. Động thái này cũng giúp giảm thiểu tranh chấp lao động, đình công – ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển lâu dài của các DN may. Khi tiến hành thương lượng cần lưu ý:

+ Đa dạng các hình thức thương lượng: tổ chức họp mặt thường xuyên và thông tin giữa công đoàn, NLĐ và NSDLĐ một cách chủ động để nắm bắt và giải quyết các vấn đề về điều kiện làm việc một cách cập thời.

+ Nội dung thương lượng xoay quanh các vấn đề cốt lõi: HĐLĐ, tiền lương tối thiểu, thời gian làm thêm giờ, tiền lương làm thêm giờ… sao cho thỏa đáng với NLĐ.

Đặc biệt để thực hiện tốt tự do hiệp hội và thương lượng tập thể thì các DN may cần có mô hình “Công đoàn độc lập” để NLĐ được tự do tham gia tổ chức công đoàn theo lựa chọn; các tổ chức công đoàn phải được tự quản, tự chủ trong việc lựa chọn cán bộ công đoàn. Điều đáng lưu ý là không có sự can thiệp của NSDLĐ vào hoạt động của tổ chức này trong các DN may; Trong bối cảnh hiện nay việc thực hiện cam kết quốc tế về lao động trong các FTA thế hệ mới và các Công ước của ILO đòi hỏi Công đoàn các DN phải đổi mới “mạnh mẽ, toàn diện”. Đó là thông điệp của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khi phát biểu tại lễ kỷ niệm 90 năm thành lập Công đoàn Việt Nam. Đổi mới cách thức tổ chức hoạt động để thực hiện tốt TNXH đảm bảo quyền và lợi ích cho NLĐ cũng như khẳng định rõ nét được   vai trò chủ lực, định hướng, dẫn dắt NLĐ tại các DN trong tình hình mới.

Tóm lại, nội dung TNXH đảm bảo quyền và lợi ích cho NLĐ chính là thực hiện tốt PLLĐ hiện hành và trang bị đầy đủ hành trang để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đảm bảo tính quốc tế trong thực hiện TNXH. Các DN may làm tốt được điều này sẽ lại một lần nữa khẳng định nó đem đến rất nhiều lợi ích hiện hữu cho cả hai bên: tăng năng suất chất lượng công việc, nâng cao hiệu  quả  kinh doanh, khơi gợi khả năng sáng tạo và hăng say lao động, gắn bó với DN.