Thâm canh nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

Thâm canh nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Đánh giá bài viết

Thâm canh nông nghiệp là con đường kinh doanh chủ yếu, là giải pháp chính để tăng sản lượng nông nghiệp ở nước ta. Nhận thức được điều đó, trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã quan tâm đầu tư vốn cho nông nghiệp, từng bước xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn phục vụ thâm canh. Vốn đầu tư ngân sách dành cho nông nghiệp không ngừng tăng, từ 6,07 tỷ năm 1986 (theo giá hiện hành) tăng lên 409 tỷ đồng năm 1990, lên 2.216,6 tỷ đồng năm 1995 và lên 5.124,2 tỷ đồng năm 1999. Nếu lấy năm 1990 làm gốc thì năm 1999 lượng vốn đầu tư cho nông nghiệp qua ngân sách tăng lên 15,5 lần, bình quân hàng năm vốn đầu tư cho nông nghiệp giai đoạn 1991 -1995 tăng 40,21% và giai đoạn 1996 – 1999 tăng 18, 25% là tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư rất cao. Tỷ trọng vốn đầu tư nông nghiệp so với tổng vốn đầu tư ngân sách có xu hướng tăng trong những năm gần đây, từ 16,32% năm 1995 tăng lên 18,42% năm 1998 và lên 19,56% năm 1999. Tính bình quân 1 ha năm 1990 đạt 0,058 triệu đồng tăng lên 0,3012 triệu đồng năm 1995 và 0,5227 triệu đồng vốn đầu tư cơ bản cho 1 ha đất nông nghiệp năm 1998. Trong đó vốn đầu tư thuỷ lợi đạt 0,042 triệu đồng năm 1990 tăng lên 0,263 triệu đồng năm 1995 và lên 0,338 triệu đồng năm 1998. Trong tổng số vốn đầu tư cho nông nghiệp, phần lớn dành cho đầu tư thuỷ lợi, năm 1990 vốn đầu tư thuỷ lợi chiếm 73,27%, năm 1995 tỷ trọng này là 87,40% và năm 1999 là 80,35%. Năng lực tưới, tiêu hàng năm tăng lên, năm 1995 năng lực tưới đạt 134,4 ngàn ha, năm 1997 tăng thêm 564,9 ngàn ha, năm1999 tăng thêm 386 ngàn ha. Tương tự năng lực tiêu nước tăng thêm 46,0 ngàn năm 1995, 386,2 ngàn ha năm 1997 và 106,4 ngàn năm 1999.

Ngoài vốn đầu tư ngân sách, vốn tín dụng Nhà nước cho nông dân vay để đầu tư phát triển nông nghiệp rất lớn. Đến cuối năm 1999 số dư nợ của hộ lên tới 21.148 tỷ đồng, bình quân 1 ha gieo trồng có số dư nợ 1,744 triệu đồng.

Số lượng đầu máy kéo trang bị cho nông nghiệp tăng nhanh, năm 1990 cả nước có 25.086 đầu máy kéo, trong đó máy kéo lớn chiếm 28,73%, đã tăng lên 97.817 đầu máy kéo năm 1995, trong đó máy kéo lớn chiếm 26,65% và lên 122.958 đầu máy năm 1998, trong đó máy kéo lớn chiếm 29,97%. Tốc độ tăng trưởng hàng năm số đầu máy kéo khá nhanh, thời kỳ 1991 – 1998 bình quân hàng năm trang bị máy kéo lớn tăng 22,62%, trong đó giai đoạn 1991 – 1995 tăng nhanh – 29.32%a và giai đoạn 1996 – 1998 tăng chậm hơn -12,24%. Số lượng đầu máy nhỏ tăng bình quân thời kỳ 1991 – 1998 đạt 21,72 trong đó giai đoạn 1991 – 1995 tăng trưởng cao hơn – 31,84% và chậm lại ở giai đoạn 1996 – 1998, đạt 6,54%. Tính trên 100 ha đất nông nghiệp năm 1990 có 0,358 đầu máy kéo các loại, tăng lên 1,29 đầu máy kéo năm 1995 và lên 1,472 đầu máy kéo năm 1997.

Lượng phân bón hóa học tăng đáng kể, từ 1.419,4 ngàn tấn (đạm quy chuẩn) năm 1985 tăng lên 2.109,7 ngàn tấn năm 1990, tăng lên 2.755,8 ngàn tấn năm 1997 và lên 2856,0 ngàn tấn năm 1998. Nếu tính trên 1 ha diện tích giao trồng năm 1985 đạt 165,88kg/ha tăng lên 233,37 kg/ha năm 1990, năm 1995 giảm xuống 216,13 kg/ha và lên 244kg/ha năm 1998.

Đàn lợn cả nước tăng lên nhanh, từ 11,807 triệu con năm 1985 lên 12,260 triệu con năm 1990, lên 16,306 triệu con năm 1995 là lên 18,132 triệu con năm 1998. Tính trên 1 ha gieo trồng cả nước đạt 1,36 con năm 1990 tăng lên 1,49 con năm 1995 và lên 1,55 con lợn năm 1998, trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng đạt 2,01 con năm 1990 tăng lên 2,59 con năm 1995 và 2,82 con năm 1998.

Cùng với việc tăng cường đầu tư vốn, củng cố, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ thâm canh nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ, tạo điều kiện để các chủ trang trại, hộ nông dân ứng dụng những biến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, từng bước áp dụng công nghệ sinh học để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản xuất. Tiến bộ khoa học và công nghệ nông nghiệp được coi trọng, trước hết là khâu giống cây trồng và vật nuôi. Nhà nước không những quan tâm khâu chọn lọc, bình tuyển, lai tạo giống mà rất quan tâm đến việc chuyển giao các giống tốt đến tay nông dân. Nhờ vậy mà tỷ lệ giống tốt được sử dụng tăng lên, năm 2000 cả nước đã cấy trên 450 ngàn ha giống lúa lai, đã tạo được trên 400 ngàn con bò giống thuộc chương trình zebu hóa đàn bò ở nước ta, tỷ lệ đàn lợn lai chiếm 70 – 75% tổng đàn lợn cả nước v.v… Các quy trình kỹ thuật thâm canh lúa, màu, rau các loại, cây công nghiệp lâu năm và hàng năm, cây ăn quả v.v… không ngừng hoàn thiện. Công tác khuyến nông được tăng cường đến tận hộ nông dân. Nhờ vậy mà nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển mạnh mẽ, tạo ra lượng nông sản hàng hóa lớn đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Giá trị sản xuất (theo giá 1994) tính cho 1 ha đất nông nghiệp tăng lên nhanh, năm 1990 đạt 8,840 triệu đồng tăng lên 11,186 triệu đồng năm 1995 và lên 11,568 triệu đồng năm 2000. Tương tự tính giá trị sản xuất cho 1 ha gieo trồng, từ 6,383 triệu đồng năm 1990 tăng lên 7,841 triệu đồng năm 1995 và lên 8,669 triệu đồng năm.

Giá trị nông sản xuất khẩu tăng lên nhanh từ 1.745,8 triệu USD năm 1995 tăng lên 2.398,0 triệu USD năm 1997 và 3.394,0 triệu USD năm 1998, tính trên 1 ha đất nông nghiệp năm1995 tạo được 273,27 USD tăng lên 303,19 USD năm 1998, tính trên 1 ha diện tích giao trồng đạt 166,32 USD năm 1995 lên 210,14 USD năm 1997 và lên 289,09 USD năm 1998. Giá trị xuất khẩu nông sản tính cho 1 lao động nông nghiệp năm 1995 đạt 72,62 USD tăng lên 96,21 USD năm 1997 và lên 134,14 USD năm 1998.

Trong những năm đổi mới trình độ thâm canh nông nghiệp của Việt Nam được nâng cao và đem lại hiệu quả to lớn. Nông nghiệp nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, trở thành nước xuất khẩu gạo, cà phê đứng thứ hai trên thế giới, một số nông sản khác cũng có vị thế cao trên thị trường quốc tế, như hạt điều, chè, rau quả, hạt tiêu v.v… góp phần đem lại nguồn ngoại tệ mạnh đáng kể cho đất nước.