Thang đo các khái niệm nghiên cứu

Theo mô hình lý thuyết được trình bày trong phần trên, các khái niệm nghiên cứu trong mô hình bao gồm: (1) Sự thành công của hệ thống thông tin kế toán – là khái niệm nghiên cứu đa hướng bậc 2 bao gồm các thành phần: Chất lượng thông tin kế toán, Chất lượng hệ thống thông tin kế toán, và Ảnh hưởng cá nhân; (2) Sử dụng hệ thống thông tin kế toán, (3) Nhận thức về tính hữu ích của hệ thống thông tin kế toán; (4) Nhận thức về tính dễ sử dụng của hệ thống thông tin kế toán; (5) Tính chất của người sử dụng hệ thống thông tin kế toán – khái niệm nghiên cứu bậc 2 bao gồm hai thành phần bậc 1 là Tri thức của người dùng và kinh nghiệm của người dùng; (6) Tính chất của dự án phát triển hệ thống thông tin kế toán – khái niệm nghiên cứu bậc 2 với 2 thành phần bậc 1 là sự tham gia của người dùng và sự hỗ trợ từ bên ngoài; và (7) Sự hỗ trợ của nhà quản lý. Thang đo các khái niệm nghiên cứu được kế thừa và vận dụng từ các nghiên cứu có liên quan trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin trong kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.

Thang đo Sự thành công của hệ thống thông tin kế toán

Sự thành công của hệ thống thông tin kế toán theo mô hình đo lường của Gable và cộng sự (2003) và Sedera (2006) được đo lường thông qua các thành phần bậc 1 như đã trình bày trong chương 2. Thang đo của các thành phần này được vận dụng từ thang đo trong các nghiên cứu về sự thành công của hệ thống thông tin, sự thành công của hệ thống quản lý nguồn lực doanh nghiệp ERP và từ các nghiên cứu về các hệ thống thông tin tương đồng với hệ thống thông tin kế toán. Chi tiết thang đo các thành phần bậc 1 của Sự thành công của hệ thống thông tin kế toán được trình bày trong các phần sau đây.

Thang đo chất lượng thông tin kế toán

Chất lượng thông tin kế toán được kế thừa và vận dụng từ khái niệm chất lượng thông tin trong ngữ cảnh hệ thống thông tin kế toán. Trên quan điểm này, dựa trên các thuộc tính của thông tin kế toán được trình bày trong các báo cáo của các tổ chức nghề nghiệp kế toán, hệ thống văn bản pháp quy kế toán Việt Nam và các nghiên cứu hàn lâm về hệ thống thông tin; đồng thời xét theo góc độ người sử dụng hệ thống thông tin kế toán, chất lượng thông tin kế toán bao gồm các thành phần khái niệm: Chính xác; Kịp thời; Đầy đủ; Định dạng. Chất lượng thông tin có thể được nhận định khác biệt nhau tuỳ thuộc đối tượng sử dụng thông tin kế toán: bên trong hay bên ngoài doanh nghiệp, người sử dụng hệ thống thông tin kế toán hay người sử dụng thông tin do kế toán cung cấp. Trong nghiên cứu này, chất lượng thông tin được đo lường theo góc nhìn của người sử dụng hệ thống thông tin kế toán. Dựa trên các nghiên cứu về chất lượng thông tin và thang đo lường chất lượng thông tin từ các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của hệ thống thông tin của Gable và cộng sự (2008), nghiên cứu về sự thành công của hệ thống

quản lý nguồn lực doanh nghiệp, nghiên cứu về các thành phần tác động đến chất lượng thông tin, chất lượng hệ thống của Nelson và cộng sự (2005), và các nghiên cứu khác; (Bailey & Pearson, 1983; Baškarada & Koronios, 2014; Gable, Sedera, & Chan, 2008; Hsu và cộng sự 2015; Juhani Iivari, 2005; Nelson và cộng sự 2005; Stacie Petter và cộng sự 2008; Wixom & Todd, 2005; Xu, Benbasat, & Cenfetelli, 2013), … khái niệm chất lượng thông tin kế toán được đo lường với 2 thành phần Ngữ cảnh Trình bày– thành phần Ngữ cảnh bao gồm các biến quan sát đánh giá mức độ mà hệ thống thông tin kế toán là hữu ích trong việc thực hiện những tác vụ cụ thể như tính chính xác, kịp thời, hữu ích, khả dụng- còn thành phần Trình bày bao gồm các biến quan sát đo lường mức độ mà thông tin kế toán được trình bày một cách hiệu quả cho việc giải thích như định dạng thông tin, tính đầy đủ, súc tích (Hsu và cộng sự 2015). Thành phần Ngữ cảnh và Trình bày được mô hình hoá theo cấu trúc kết quả (reflective latent constructs), Chất lượng thông tin kế toán được hình thành là thành phần bậc 2 theo nguyên nhân (second- order formative construct). Điều này có 2 lý do – thứ nhất, quan hệ nhân quả chuyển theo hướng từ 2 thành phần này đến chất lượng thông tin để đánh giá tổng quát chất lượng thông tin hơn là từ Chất lượng thông tin đến Ngữ cảnh thông tin và Trình bày thông tin (Diamantopoulos & Siguaw, 2006). Lý do thứ 2, là biến quan sát của khái niệm nghiên cứu bậc cao hơn – Chất lượng thông tin, hai thành phần này không thể hoán đổi lẫn nhau (Jarvis, MacKenzie, & Podsakoff, 2003). Những thay đổi chất lượng trong ngữ cảnh và Trình bày thông tin do hệ thống cung cấp sẽ tác động đến nhận thức của người sử dụng về chất lượng thông tin của hệ thống thông tin kế toán.

Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Ringle và cộng sự (2012), khi ở dạng mô hình đo lường với thành phần bậc 1 được đo theo mô hình thang đo kết quả, thành phần bậc 2 đo theo mô hình thang đo nguyên nhân thì các biến quan sát dạng kết quả của thành phần bậc 1 cũng sẽ được dùng cho thành phần bậc 2 ở dạng kết quả (Christian M Ringle, Sarstedt, & Straub, 2012). Đồng thời, trong chuyên khảo về đo lường sự thành công của hệ thống thông tin, DeLone và McLean (2016) cũng đã tổng hợp và đưa ra thang đo cho chất lượng thông tin do hệ thống cung cấp (DeLone & McLean, 2016), thang đo này cũng bao gồm các biến quan sát tương tự thang đo do Hsu và cộng sự (2015) đề xuất. Với mục đích đo lường thành phần bậc 1- Chất lượng thông tin kế toán trong mô hình đo lường sự thành công của hệ thống thông tin kế toán và vận dụng thang đo của DeLone và McLean (2016), tác giả đề xuất Thang đo chất lượng thông tin kế toán bao gồm 6 biến quan sát như sau:

AIS_IQ1: Hệ thống thông tin kế toán cung cấp các đầu ra/ báo cáo đúng những gì tôi cần.

AIS_IQ2: Thông tin cần thiết từ hệ thống thông tin kế toán luôn có sẵn. AIS_IQ3: Thông tin từ hệ thống thông tin kế toán luôn ở dạng thức sẵn sàng hữu dụng.

AIS_IQ4: Thông tin từ hệ thống thông tin kế toán dễ hiểu.

AIS_IQ5: Thông tin từ hệ thống thông tin kế toán thể hiện có thể đọc được, rõ ràng, và được định dạng tốt.

AIS_IQ6: Thông tin từ hệ thống thông tin kế toán đầy đủ, súc tích.

Thang đo chất lượng hệ thống thông tin kế toán

Chất lượng hệ thống thông tin kế toán đề cập đến khả năng của chính nó trong quá trình xử lý dữ liệu và cung cấp thông tin kế toán. Chất lượng hệ thống thông tin bao gồm các thuộc tính về khía cạnh kỹ thuật và các thuộc tính tổ chức vận hành. Các nghiên cứu hàn lâm về chất lượng hệ thống thông tin cho thấy chất lượng hệ thống bao gồm các thành phần khái niệm: Dễ sử dụng; Đầy đủ tính năng; Đáng tin cậy; Tính linh hoạt; Tích hợp (DeLone & McLean, 2003, 2004; Juhani Iivari, 2005; Montesdioca & Macada, 2015; Stacie Petter & McLean, 2009; Peter Seddon & Kiew, 1996). Thang đo chất lượng hệ thống thông tin kế toán – kế thừa và phát triển từ nghiên cứu của Bailey và Pearson (1983), các nghiên cứu về chất lượng hệ thống thông tin và các nghiên cứu về chất lượng hệ thống ERP như (Bailey & Pearson, 1983; Baškarada & Koronios, 2014; Ifinedo, 2008; Ifinedo, Rapp, Ifinedo, & Sundberg, 2010; Juhani Iivari, 2005; Stacie Petter và cộng sự 2008; Wixom & Todd, 2005; Xu và cộng sự 2013), … Chất lượng hệ thống thông tin được đo lường với 9 biến quan sát, ứng dụng từ các nghiên cứu trên và theo đề xuất của Gable và cộng sự (2008), điều chỉnh từ thang đo được đề nghị theo nghiên cứu của Nelson và cộng sự (2005) phân nhóm theo 2 nhóm chính: nhóm biến quan sát liên quan đến hệ thống (như dễ sử dụng, dễ học hỏi, …) và nhóm biến quan sát liên quan đến tác vụ (như linh hoạt, tính hợp, …). Mô hình đo lường chất lượng hệ thống này cũng được ứng dụng trong nghiên cứu của Hsu và cộng sự (2015) – trong đó, mô hình đo lường kết quả được áp dụng để kiểm định cho hai thành phần Hệ thống và tác vụ, và chất lượng hệ thống là khái niệm nghiên cứu bậc 2 với thành phần bậc nhất là Hệ thống (System- Related) và Tác vụ (Task- Related) – theo mô hình nguyên nhân (Gable và cộng sự 2008; Hsu và cộng sự 2015; Nelson và cộng sự 2005). Tuy nhiên, với lý luận tương tự như phần 3.2.1.1, chất lượng hệ thống thông tin kế toán là thành phần bậc 1 trong mô hình đo lường sự thành công của hệ thống thông tin kế toán, thang đo được kế thừa từ thang đo trong nghiên cứu của Hsu và cộng sự (2015) và chuyên khảo của DeLone và McLean (2016), bao gồm 9 biến quan sát sau:

AIS_SQ1: Hệ thống thông tin kế toán này dễ sử dụng AIS_SQ2: Hệ thống thông tin kế toán này dễ học hỏi

AIS_SQ3: Giao diện của hệ thống thông tin kế toán này dễ sử dụng cho việc sử dụng

AIS_SQ4: Khi thực hiện công việc, Hệ thống thông tin kế toán này chỉ cần ít màn hình và ít nội dung dữ liệu nhập

AIS_SQ5: Hệ thống thông tin kế toán này đáp ứng yêu cầu công việc của tôi AIS_SQ6: Hệ thống thông tin kế toán này có đầy đủ tính năng cần thiết cho công việc của tôi

AIS_SQ7: Hệ thống thông tin kế toán này luôn xử lý dữ liệu chính xác AIS_SQ8: Dữ liệu của Hệ thống thông tin kế toán này nhất quán và tích hợp tốt AIS_SQ9: Hệ thống thông tin kế toán này dễ dàng tuỳ chỉnh hoặc cải tiến theo yêu cầu của tôi.

Thang đo Ảnh hưởng cá nhân

Trong mô hình sự thành công của hệ thống thông tin của DeLone và McLean, khái niệm tác động ròng – Net Impacts đo lường kết quả của hệ thống và so sánh với mục tiêu của hệ thống, được đo lường một cách phong phú ở các mức độ khác nhau: ảnh hưởng cá nhân, ảnh hưởng tổ chức, ảnh hưởng ngành nghề hay ảnh hưởng đến xã hội. Trong đó, lợi ích cá nhân là thành phần phổ biến để đo lường ảnh hưởng ròng với đơn vị phân tích là cá nhân (DeLone & McLean, 2016). Trong nghiên cứu này, Ảnh hưởng cá nhân được kế thừa từ thang đo của Delone và McLean (2016).

Thang đo ảnh hưởng cá nhân được kế thừa từ thang đo hiệu suất của người dùng trong nghiên cứu của Etezadi- Amoli và Farhoomand (1996) – nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự hài lòng của người dùng với hiệu suất hoạt động của người dùng – và được vận dụng trong các nghiên cứu liên quan. Thang đo này – sau đó, được Sedera và cộng sự (2013) sử dụng để kiểm định và đo lường sự thành công của hệ thống thông tin (DeLone & McLean, 2016). Hệ thống thông tin kế toán cũng là hệ thống thông tin, nên thang đo Ảnh hưởng cá nhân của hệ thống thông tin cũng được vận dụng cho hệ thống thông tin kế toán. Vì vậy, Thang đo Ảnh hưởng cá nhân cho hệ thống thông tin kế toán như sau:

AIS_UB1: Tôi đã học được rất nhiều khi có hệ thống thông tin kế toán này AIS_UB2: Hệ thống thông tin kế toán này giúp tăng cường hiểu biết của tôi về mối liên hệ giữa thông tin và công việc

AIS_UB3: Hệ thống thông tin kế toán này nâng cao hiệu quả của tôi trong công việc AIS_UB4: Hệ thống thông tin kế toán này làm tăng năng suất làm việc của tôi

Thang đo sử dụng hệ thống thông tin kế toán

Thang đo cho khái niệm sử dụng hệ thống thông tin kế toán được hình thành từ việc kế thừa thang đo cho khái niệm sử dụng hệ thống thông tin và thang đo cho khái niệm ý định sử dụng hệ thống thông tin. Các khái niệm nghiên cứu này được đề cập, nghiên cứu trong mô hình thành công của hệ thống thông tin và mô hình TAM cũng như các nghiên cứu về hệ thống thông tin khác. Sử dụng hệ thống thông tin bao gồm việc đang sử dụng và ý định tiếp tục sử dụng trong tương lai. Theo DeLone và McLean (2003), sử dụng hệ thống thông tin là thành phần chủ yếu và ngày càng quan trọng trong đo lường sự thành công của hệ thống thông tin. Sử dụng hệ thống thông tin bao gồm mức độ thường xuyên sử dụng và và mở rộng tiếp tục sử dụng, ngay cả trong các doanh nghiệp – nơi mà hệ thống thông tin được sử dụng mang tính bắt buộc hơn là tự nguyện (DeLone & McLean, 2016). Thang đo cho khái niệm sử dụng hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp Việt Nam được đề xuất dựa trên quan điểm kế thừa thang đo sử dụng hệ thống thông tin – khi một hệ thống thông tin được sử dụng tuỳ thuộc và mục tiêu và khả năng hữu ích của nó – bao gồm mức độ thường xuyên sử dụng, sự phù hợp trong việc sử dụng, sự triệt để trong việc sử dụng, mở rộng tính năng khi sử dụng và ý định tiếp tục sử dụng. Mặc dù có những quan điểm cho rằng, hệ thống thông tin kế toán là bắt buộc cho các doanh nghiệp, vì vậy ý định tiếp tục sử dụng không nên là một biến quan sát cho việc đo lường sử dụng thực tế, tuy nhiên, người sử dụng hệ thống thông tin kế toán có thể mở rộng sử dụng, cải tiến hệ thống nếu trong quá trình sử dụng không đáp ứng yêu cầu, ngưng không sử dụng hệ thống cũ hay tái phát triển và xây dựng hệ thống mới; hoặc chỉ sử dụng những chức năng cơ bản – không sử dụng hay ngưng sử dụng một số thành phần của HTTTKT. Do đó, các biến quan sát liên quan đến việc mức độ thường xuyên, ý định tiếp tục sử dụng, mở rộng sử dụng vẫn phù hợp cho việc đo lường sử dụng thực tế một hệ thống thông tin kế toán. Dựa trên các nghiên cứu của Bhattacherjee (2001), Po-An Hsieh và Wang (2007), Hsu và cộng sự (2015) và DeLone và McLean (2016), thang đo Sử dụng hệ thống thông tin kế toán như sau:

AIS_USED1: Tôi thường xuyên sử dụng hệ thống thông tin kế toán này AIS_USED2: Tôi sẽ tiếp tục sử dụng hệ thống thông tin kế toán này

AIS_USED3: Tôi sẽ tiếp tục sử dụng nhiều chức năng của hệ thống thông tin kế toán này hơn

AIS_USED4: Tôi sẽ tiếp tục sử dụng hệ thống thông tin kế toán này để xử lý những nhiệm vụ

AIS_USED5: Tôi có ý định đề nghị công ty ngưng sử dụng hệ thống thông tin kế toán này (biến quan sát nghịch đảo)

Thang đo nhận thức về tính hữu ích của hệ thống thông tin kế toán

Nhận thức về tính hữu ích của hệ thống thông tin kế toán kế thừa từ khái niệm nhận thức về tính hữu ích trong mô hình TAM. Thang đo của khái niệm này cũng được sử dụng từ thang đo tương ứng trong mô hình này. Thang đo cho khái niệm nghiên cứu nhận thức về tính hữu ích của hệ thống thông tin kế toán là thang đo đơn hướng dạng kết quả, bao gồm 4 biến quan sát (Y. Hwang, 2014) được chấp nhận từ thang đo trong mô hình TAM của Davis (1989) và các nghiên cứu của Rajan and Baral (2015); Lee và và cộng sự (2009); Elkhani và và cộng sự (2013); Escobar-Rodríguez & Bartual-Sopena (2014); Calisir và và cộng sự (2009); Zhang và và cộng sự (2013), như sau:

PU1: Sử dụng hệ thống thông tin kế toán này nâng cao thành quả của tôi trong công việc

PU2: Sử dụng hệ thống thông tin kế toán này sẽ nâng cao năng suất công việc của tôi

PU3: Sử dụng hệ thống thông tin kế toán này sẽ nâng cao hiệu quả công việc của tôi

PU4: Tôi thấy rằng hệ thống thông tin kế toán này sẽ hữu ích trong công việc của tôi

Thang đo nhận thức về tính dễ sử dụng của hệ thống thông tin kế toán

Dựa trên lý thuyến nền của mô hình TAM và vận dụng các nghiên cứu có liên quan như nghiên cứu của Rajan and Baral (2015); Lee và và cộng sự (2009); Elkhani và và cộng sự (2013); Escobar-Rodríguez & Bartual-Sopena (2014); Calisir và và cộng sự (2009); Zhang và và cộng sự (2013), thang đo cho khái niệm nhận thức về tính dễ sử dụng của hệ thống thông tin được xây dựng là thang đo đơn hướng dạng kết quả, bao gồm 4 biến quan sát (Y. Hwang, 2014) như sau:

PEU1: Đối với tôi, học cách sử dụng hệ thống thông tin kế toán này thật dễ dàng

PEU2: Tôi dễ dàng sử dụng hệ thống thông tin kế toán này theo đúng những gì tôi muốn

PEU3: Việc tương tác của tôi với hệ thống thông tin kế toán này rõ ràng và dễ hiểu PEU4: Tôi thấy Hệ thống thông tin kế toán này dễ sử dụng

Thang đo sự hỗ trợ của nhà quản lý

Sự hỗ trợ của nhà quản lý là một phần của đặc tính tổ chức trong doanh nghiệp và ảnh hưởng trực tiếp đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý (Stacie Petter và cộng sự 2013). Sự hỗ trợ của các nhà quản lý đề cập đến việc sẵn sàng hỗ trợ các nguồn lực, phân bổ thời gian và khuyến khích sử dụng hệ thống thông tin kế toán. Thang đo sự hỗ trợ của nhà quản lý được kế thừa từ thang đo trong nghiên cứu của Bradford và Florin (2003); Costa, Ferreira, Bento và Aparicio (2016), là thang đo đơn hướng dạng kết quả như sau (Bradford & Florin, 2003; Costa và cộng sự 2016; Urbach, Smolnik, & Riempp, 2010):

TMS1: Các nhà quản lý quan tâm đến lợi ích có được từ hệ thống thông tin kế toán này

TMS2: Các nhà quản lý luôn hỗ trợ và khuyến khích tôi sử dụng hệ thống thông tin kế toán này

TMS3: Hệ thống thông tin kế toán này luôn nhận được sự hỗ trợ tích cực mạnh mẽ từ nhà quản lý

TMS4: Các nhà quản lý cung cấp đầy đủ tài chính và các nguồn lực khác để tổ chức và sử dụng hệ thống thông tin kế toán này

Thang đo tính chất người dùng hệ thống thông tin kế toán

Như phần trên đã đề cập, tính chất người sử dụng hệ thống thông tin kế toán là khái niệm nghiên cứu bậc 2 dạng kết quả (second- order reflective construct) với 2 thành phần bậc nhất dạng kết quả: tri thức và kinh nghiệm. Điều này xuất phất từ 2 lý do: quan hệ nhân quả từ tri thức và kinh nghiệm chịu ảnh hưởng bởi tính chất người dùng hơn là theo chiều ngược lại (Diamantopoulos & Siguaw, 2006) và khi là biến quan sát của khái niệm nghiên cứu bậc cao hơn, hai thành phần này không phụ thuộc lẫn nhau và không thay thế cho nhau (Jarvis và cộng sự 2003). Thang đo tri thức của người sử dụng hệ thống thông tin kế toán và thang đo kinh nghiệm của người sử dụng hệ thống thông tin kế toán được kế thừa từ cái khái niệm nghiên cứu tương ứng từ các nghiên cứu của Bravo, Santana và Rodon (2015); Hwang (2014); Stone, Good và Baker-Everleth (2007). Các biến quan sát trong thang đo này trước đó được sử dụng trong các nghiên cứu của Sousa (2004); Dong, Neufeld và Higgins (2008) (Edgardo R Bravo và cộng sự 2015; Y. Hwang, 2014; R. W. Stone và cộng sự 2007) như sau:

Thành phần Tri thức:

AIS_UK1: Tôi rất am hiểu về cách thức sử dụng các chức năng của hệ thống thông tin kế toán này

AIS_UK2: Tôi rất am hiểu về cách thức truy cập dữ liệu cần thiết từ hệ thống thông tin kế toán này

AIS_UK3: Tôi rất am hiểu về cách thức hệ thống thông tin kế toán này vận Thành phần Kinh nghiệm:

AIS_UEX1: Trong quá trình công tác, tôi đã từng sử dụng hệ thống thông tin kế toán này

AIS_UEX2: Tôi đã từng sử dụng hệ thống thông tin kế toán này trong một thời gian dài

Thang đo tính chất dự án hệ thống thông tin kế toán

Tính chất dự án như phần trên đã trình bày, bao gồm: (1) sự hỗ trợ từ các đối tác bên ngoài như đội ngũ nhà tư vấn, các chuyên gia công nghệ thông tin hay từ chính bộ phận công nghệ thông tin trong doanh nghiệp trong quá trình triển khai dự án phát triển hệ thống thông tin kế toán; và (2) Sự tham gia của người dùng trong quá trình phát triển hệ thống thông tin kế toán. Lập luận tương tự thang do tính chất người dùng, tính chất dự án cũng được mô hình hoá là khái niệm nghiên cứu bậc hai dạng kết quả với 2 thành phần bậc nhất dạng kết quả là Sự hỗ trợ từ bên ngoài và Sự tham gia của người dùng. Thang đo sự hỗ trợ từ bên ngoài kế thừa từ thang đo của nghiên cứu của Nwankpa (2015), Al-Jabri (2015); Ram và cộng sự (2014); bao gồm các biến quan sát sau:

AIS_ES1: Luôn có một cá nhân hay nhóm chuyên viên hỗ trợ khi có trục trặc phần cứng

AIS_ES2: Luôn có một cá nhân hay nhóm chuyên viên hỗ trợ khi có trục trặc phần mềm

AIS_ES3: Tôi luôn được hướng dẫn, đào tạo chi tiết các vấn đề liên quan đến Hệ thống thông tin kế toán

AIS_ES4: Tôi luôn được hỗ trợ đào tạo, huấn luyện khi có thay đổi, nâng cấp hệ thống thông tin kế toán

Sự tham gia của người dùng tác động đến sự thành công của hệ thống thông tin được nghiên cứu từ rất lâu, từ việc phân tích và xác định sự tham gia của người dùng tác động đến sự thành công của hệ thống MIS (Powers & Dickson, 1973), Ives và Olson (1984) đã phát triển thang đo cho khái niệm nghiên cứu này (Ives và cộng sự 1983); Baroudi và cộng sự (1986) sử dụng thang đo này nghiên cứu thực nghiệm tác động của sự tham gia của người dùng đến sự hài lòng của người dùng và việc sử dụng hệ thống thông tin (Baroudi và cộng sự 1986). Nghiên cứu của Amoako-Gyampah và cộng sự (1993, 2007); Abelein và Paech (2015) kế thừa và xây dựng thang đo bao gồm 4 biến quan sát (Abelein & Paech, 2015; Amoako-Gyampah, 2007; Amoako-Gyampah & White, 1993). Hệ thống thông tin kế toán là hệ thống thông tin, nên trong nghiên cứu này, chúng tôi kế thừa thang đo này với 4 biến quan sát như sau:

AIS_UINVO1: Tôi tham gia vào quá trình đánh giá, lựa chọn và triển khai phần mềm kế toán cho hệ thống

AIS_UINVO2: Sự tham gia của tôi vào quá trình tổ chức hệ thống thông tin kế toán này là quan trọng

AIS_UINVO3: Quá trình tổ chức hệ thống thông tin kế toán này cần tôi tham gia

AIS_UINVO4: Tôi đóng góp nhiều công sức cho quá trình tổ chức hệ thống thông tin kế toán này

Tổng hợp thang đo và Thiết kế bảng câu hỏi điều tra sơ bộ

Thang đo các khái niệm nghiên cứu được tổng hợp, mã hoá và trình bày trong bảng 3.1. Trên cơ sở những thang đo của các khái niệm nghiên cứu đã trình bày, chúng tôi xây dựng bảng câu hỏi cho chương trình điều tra sơ bộ (Phụ lục 1). Bảng câu hỏi này được mang ra thảo luận với những người có kinh nghiệm tổ chức, sử dụng, tư vấn Hệ thống thông tin Kế toán, bao gồm các chuyên viên đang công tác trong lĩnh vực đào tạo và đang công tác tại các doanh nghiệp phần mềm kế toán cũng như các Kế toán trưởng. Các nội dung đề xuất chỉnh sửa từ kết quả thảo luận chủ yếu là câu từ, thuật ngữ làm rõ ý cho bảng câu hỏi khảo sat. Dựa trên kết quả thảo luận, Bảng câu hỏi điều tra trong chương trình khảo sát sơ bộ được xây dựng (phụ lục 2)