Thành công trong việc hợp tác trong chuỗi cung ứng ngành CNTT tương đối hiệu quả, sản phẩm

Thứ tư, mức độ hợp tác trong chuỗi cung ứng ngành CNTT tương đối hiệu quả, sản phẩm đi đến tay người tiêu dùng cuối cùng

Mặc dù không có số liệu cụ thể để đánh giá hình thức OEM chiếm bao nhiều phần trăm trong trong chuỗi giá trị toàn cầu của ngành CNTT Đài Loan hiện nay và sự dịch chuyển lên các hình thức ODM và OBM của ngành này theo tỷ lệ phần trăm, nhưng một điều có thể thấy, sự chuyển dịch lên ODM hay OBM là xu hướng phát triển hiện tại của Đài Loan nhờ tăng năng suất lao động, tăng giá trị sản phẩm và đạt những yêu cầu cao về chất lượng và mẫu mã sản phẩm.

Thông qua quan hệ hợp đồng cung ứng với các công ty sở hữu nhãn hiệu và đứng đầu mạng sản xuất khắp thế giới, các OEM và ODM Đài Loan dần dần trở nên hiểu rõ người tiêu dùng cuối cùng (khách hàng của các công ty đứng đầu mạng). Một số công ty Đài Loan bắt đầu chủ động đề xuất các thiết kế sản phẩm, tổ chức các dây chuyền sản xuất, đóng gói và kế hoạch logistics. Những đề xuất này nhìn chung có lợi cho người tiêu dùng cuối cùng vì giá thành sản phẩm rẻ hơn.

Đây là cách thức để các công ty Đài Loan vươn lên tự cung cấp cho người tiêu dùng các sản phẩm mang nhãn hiệu riêng. Công ty EMS / ODM Đài Loan trở thành các OBM. Vào năm 2014, trong số 10 phân xưởng sản xuất hàng CNTT lớn nhất thế giới, có 3 công ty thuộc về Đài Loan, đó là TSMC, UMC và VIS. TSMC được thành lập vào năm 1987 tại Khu Công nghiệp Hsinchu. Năm 2002, TSMC đã trở thành hãng sản xuất vật liệu bán dẫn đầu tiên lọt vào Top 10 công ty sản xuất mạch tích hợp IC bán được sản phẩm rộng rãi trên thị trường thế giới và hiện nay doanh thu của công ty chiếm 60% thị phần trong lĩnh vực sản xuất chip toàn cầu. TSMC được biết đến với tư cách là doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm dòng vi mạch, chip logic với thế mạnh đặc biệt là tiêu thu điện năng thấp tiên tiến như 28 mm HPM với công nghệ hiện đại áp dụng cho điện thoại di động. Cho đến nay, hầu hết các tập đoàn hàng đầu thế giới về bán dẫn như Qualcomm, NVIDIA, Advanced Mocro Devices, MediaTek, Marvell, Broadcom là khách hàng chủ yếu của TSMC. Các công ty thiết bị logic lập trình hàng đầu thế giới như Xilinx, Altera cũng sử dụng các thiết bị đúc của TSMC. Một số nhà sản xuất thiết bị tích hợp như Intel, Texas Instruments cũng thuê TSMC làm một số dịch vụ cho họ… TSMC đã nâng cao năng lực sản xuất của mình trong thời gian qua, tập trung cho R&D để trở thành một trong những hãng sản xuất lớn nhất thế giới về CNTT

Đài Loan tiếp tục tiến sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu nhờ dây chuyền đóng gói sản phẩm. Có nghĩa là, vượt qua công đoạn cung ứng nguyên liệu, thiết bị, sản phẩm, cách thức thiết kế…, các doanh nghiệp CNTT của Đài Loan đã tiến lên công đoạn đóng gói sản phẩm và dịch vụ cho nhà cung cấp, bảo quản sản phẩm hoàn thành và những mong đợi thực sự của người tiêu dùng. Trong số 10 doanh nghiệp đóng gói CNTT lớn nhất trên thế giới, có mặt 4 hãng Đài Loan là ASE, SPIL, PTI, ChipMOS. Doanh số năm 2014 của ASE là 4,046 tỷ USD, đứng đầu thế giới. SPIL đạt doanh số 2,505 tỷ USD, đứng thứ 3 thế giới, PTI đứng thứ 5 thế giới (doanh số 1,317 tỷ USD) và ChipMOS đứng thứ 9 thế giới (doanh số 725 triệu USD) (xem bảng). Trong số các doanh nghiệp đóng gói hàng CNTT lớn nhất thế giới, ASE (Asus) đứng vị trí đầu bảng.

Sau đó, ASUS đảm nhiệm luôn cả việc thiết kế các model của Dell theo ý tưởng của hãng này. Từ chỗ là 1 công ty sản xuất máy tính, dần dà Dell đã trở thành 1 công ty bán lẻ thiết bị. Sau nhiều năm dài làm nhà cung ứng cho Dell, ASUS đã chính thức trở thành 1 trong những hãng laptop có doanh số lớn và là 1 đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Dell. Dell dần dần đánh mất khả năng sáng tạo của mình và trở thành nhà cung ứng thiết bị ngược trở lại cho ASUS, đồng thời ASUS trở thành nhà sản xuất và đóng gói sản phẩm CNTT lớn nhất trên thế giới.

Trong số 20 hãng thiết kế hàng đầu thế giới về CNTT, Mỹ có 11 hãng (đứng vị trí đầu bảng), tiếp theo là Đài Loan (5 hãng), châu Âu (2 hãng), Singapore (1 hãng), Trung Quốc (1 hãng). 5 hãng thiết kế sản phẩm CNTT lớn nhất của Đài Loan là Media Tek, Novatek, Reatek, Avago và MStar. Năm 2013, doanh thu và tốc độ tăng trưởng doanh thu của 5 hãng Đài Loan trong số 20 hãng thiết kế CNTT hàng đầu thế giới là như sau:

Thành công của Đài Loan trong việc tham gia chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu nhờ vào 4 đặc trưng cơ bản: 1) tạo ra các sản phẩm chi phí thấp và trở thành nhà cung cấp chiến lược cho các doanh nghiệp nước ngoài; 2) sử dụng các kênh công nghệ khác nhau để trở thành sản phẩm make in Taiwan; 3) chấp nhận sự có mặt của các công ty xuyên quốc gia trong các ngành công nghiệp chiến lược;

 Đài Loan đã xây dựng mối liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài dưới hình ảnh là các nhà cung cấp chiến lược chứ không tập trung vào tham vọng liên kết ngành theo chiều dọc như các chaebol Hàn Quốc đã làm.

Các nhà cung cấp chiến lược này đã đạt được năng lực mới thông qua mối quan hệ với các khách hàng quốc tế. Chính quyền Đài Loan đã giành nhiều nỗ lực để xây dựng năng lực cho doanh nghiệp và cơ sở hạ tầng công nghiệp thông qua đầu tư R&D, cấp giấy phép cho công nghệ nước ngoài, mua quyền sử dụng công nghệ nước ngoài, trợ cấp cho các doanh nghiệp địa phương khi tham gia thị trường công nghệ cao. Nhìn chung, chính quyền Đài Loan đã tập trung xây dựng mối liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp thông tin lớn ở nước ngoài chứ không cố gắng xây dựng năng lực quốc gia bằng các doanh nghiệp lớn như các chaebol của hàn Quốc. Chi phí thấp của các sản phẩm CNTT đã tạo ra sự cạnh tranh cho Đài Loan so với các nước khác trong khu vực như Nhật Bản và Hàn Quốc. Chính vì tập trung vào một phạm vi hẹp các sản phẩm để trở thành nhà cung cấp chiến lược, các chính sách của Đài Loan đã tỏ ra hiệu quả trong việc đưa ngành thông tin tham gia mạnh mẽ vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thông qua quan hệ hợp đồng cung ứng với các công ty sở hữu nhãn hiệu và đứng đầu mạng sản xuất khắp thế giới, các EMS và ODM Đài Loan dần dần trở nên hiểu rõ người tiêu dùng cuối cùng (khách hàng của các công ty đứng đầu mạng). Một số công ty Đài Loan bắt đầu chủ động đề xuất các thiết kế sản phẩm, tổ chức các dây chuyền sản xuất và kế hoạch logistics. Những đề xuất này nhìn chung có lợi cho người tiêu dùng cuối cùng vì giá thành sản phẩm rẻ hơn. Đây là cách thức để các công ty Đài Loan vươn lên tự cung cấp cho người tiêu dùng các sản phẩm mang nhãn hiệu riêng. Công ty EMS / ODM Đài Loan trở thành các OBM