Thế nào là phát triển bền vững?

Xuất phát từ thực tế và những hậu quả của quá trình phát triển gây ra, những ý   tưởng PTBV đã sớm xuất hiện trong XH loài người nhưng phải đến thập niên đầu của thế  kỷ XX những ý tưởng này mới chuyển hóa thành hành động và cao hơn là phong trào XH trên toàn cầu. Trong những năm 1970, từ các công trình  của  Herman Daly “kinh tế học  nhà nước mạnh” (1973), và “Vòng tròn khép kín” Barry Commner (1971), hoặc các khái niệm PTBV được thể hiện trong tác phẩm của Maurice Strong (1972) và Ignacy Sachs (1975), công trình của Amory Lovins “Những con đường sử  dụng năng lượng mềm về   một nền hòa bình lâu dài” (1977) thì thuật ngữ XH bền vững bắt đầu xuất hiện trong các công trình nghiên cứu của các học giả phương Tây. Đặc biệt trong công trình của Laster Brown “Xây dựng một xã hội bền vững” (1981), khái niệm này đã được đề cập một cách toàn diện nhất và đầy đủ nhất.

Thuật ngữ  “phát triển bền vững” lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo “Chiến  lược bảo tồn thế giới”, do Uỷ ban Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế (IUCN) thuộc Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương trình Môi trường Liên hợp quốc công bố (cùng với sự trợ giúp của UNESCO và FAO) vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, với nội dung đơn giản “Sự phát triển của nhân loại phải tôn trọng những nhu  cầu tất yếu của XH, chú trọng đến phát triển KT mà còn phải quan tâm sự tác động đến   MT sinh thái”.

Năm 1987, sau khi báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế   giới thuộc Liên hiệp quốc được công bố, khái niệm về PTBV mới chính thức được  phổ  biến rộng rãi. Báo cáo này nêu rõ “PTBV là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các    thế hệ tương lai”. Qua thời gian, khái niệm PTBV tiếp tục được mở rộng thêm và nội hàm của nó càng bao quát hơn không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố XH, con người, đồng thời còn hàm chứa sự bình đẳng giữa các thế hệ, giữa những nước  giàu và nghèo: “PTBV là quá trình phát triển KT dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo  trên cơ sở tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống con người, động vật, thực vật”. Nội dung về PTBV này thể hiện tính tổng hợp, phạm vi rộng, bao gồm nhiều  yếu  tố cấu thành khác nhau như KT, XH, MT… không bị ép buộc bởi các chuẩn mực, các quy tắc đã được định sẵn và có thể dễ dàng áp dụng dựa theo những đặc  thù KT, XH,  chính trị, địa lý, văn  hóa… của các quốc gia và vùng lãnh thổ.

Vào khoảng cuối những năm 80 thế kỷ XX, khái niệm PTBV du nhập vào nước ta  và Việt Nam ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về PTBV. Trên cơ sở nghiên cứu của Báo cáo Brundtland công trình nghiên cứu Tiến tới MT bền vững của Trung tâm Tài nguyên và MT đã đưa ra khái niệm PTBV đại ý như sau: “PTBV trên bốn lĩnh vực: bền vững về mặt KT, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt MT, bền vững về mặt kỹ thuật”. Dựa trên nghiên cứu bộ tiêu chí PTBV của Brundtland và tham khảo kinh nghiệm một số nước như Trung Quốc, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ… các tác giả công trình nghiên cứu xây dựng tiêu chí PTBV cấp quốc gia giai đoạn I năm 2003 của viện Môi trường và Phát triển bền vững đã xây dựng tiêu chí cụ thể về PTBV đối với một quốc gia theo 3 khía cạnh: bền vững về KT, bền vững về XH, bền vững về MT, đồng thời các tác giả còn đề   xuất một số phương án lựa chọn bộ PTBV cho Việt Nam. Việt Nam đã cam kết và bắt tay vào hành động với dự án VIE/01/021 “Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam” vào tháng 11/2001 và kết thúc vào tháng 12/2005 nhằm tạo tiền đề từng bước cho việc hướng đến thực hiện Vietnam Agenda 21.

Quan hệ ràng buộc giữa tăng trưởng KT, phát triển XH và bảo vệ MT sinh thái   trong PTBV được khái quát trong sơ đồ sau: