Thị phần sản phẩm Sợi trong thị trường xuất khẩu của Việt Nam

Trong những năm qua, các sản phẩm Sơị có xu hướng xuất khẩu tăng trưởng tốt trong giai đoạn 2010-2017. Kim ngạch xuất khẩu sản phầm Sợi từ 1,1 tỷ USD năm 2010 tăng lên 3,1 tỷ USD năm 2017 ( tăng 3 lần ). Đây có thể do hiệu ứng các Hiệp định thương mại tự do thời gian qua có yêu cầu về quy tắc xuất sứ như với CPTPP là từ Sợi thì các sản phẩm may mặc Việt Nam mới có thể hưởng lợi ích giảm thuế quan, nên các doanh nghiệp Dệt May đã tăng cường đầu tư cho các sản phẩm nguyên, phụ liệu.

Việt Nam đứng thứ 2 trong số các quốc gia có kim ngạch xuất khẩu sợi cotton lớn nhất thế giới trong năm 2016, chỉ sau Ấn Độ ( Hình 3.5). Các thị trường xuất khẩu chính của sợi cotton là Trung Quốc 84%, theo sau là các quốc gia Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Thai Lan,… Có thể thấy rằng hiện này Việt Nam đang xuất Sợi tự nhiên chủ yếu sang quốc gia láng giềng, việc thay đổi các chính sách về kinh doanh, dự trữ bông Trung Quốc sẽ tác động đáng kể đến ngành Sợi Việt Nam. Mặc dù vậy Việt Nam đang đối diện với việc mất cân đối cung cầu ngành Sợi. Trong năm 2017, sản lượng Sợi toàn ngành đạt khoảng 2 triệu tấn, nhưng lại xuất khẩu 1,3 triệu tấn. Trong khi các doanh nghiệp dệt nhuộm lại phải nhập khẩu sợi từ nước ngoài thì Việt Nam xuất khẩu gần 70 % sản lượng Sợi trong nước.

 Nguyên nhân có thể do việc xuất khẩu Sợi mang lại lợi nhuận tốt hơn sơ với việc kinh doanh Sợi nội địa. Đơn cử như chi phí xuất Sợi sang Trung Quốc chỉ khoảng 3 – 3,5 cent/kg trong khi chi phí trong nước là gấp đôi, khoảng 6 cent/kg. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hoạt động chủ yếu theo phương thức gia công xuất khẩu. Các đối tác và bên đặt hàng chỉ định sử dụng việc chọn lựa vải để sản xuất nên dẫn đến hạn chế của Ngành dệt nhuộm, tác động không tốt đến đầu ra ngành sợi trong nước. Có thể thấy rằng với lợi thế về chi phí điện và giá nhân công thấp, năng năng lực cạnh tranh của sợi Việt Nam chỉ tạo ra được lợi thế cạnh tranh ngắn hạn, chưa thể là yếu tố để phát triển bền vững (Bảng 3.6).