Thị trường nông nghiệp Việt Nam đang trong quá trình hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới

Môi trường thị trường mở cửa và hội nhập với bên ngoài là điều kiện thúc đẩy quá trình hội nhập của nông nghiệp Việt Nam với thế giới và khu vực. Hiện nay Chính phủ ta đã cam kết trong các Hiệp định Quốc tế với lộ trình xác định, gồm: 1/ Hiệp định tham gia AFTA: Tới năm 2006 thuế suất, thuế nhập khẩu đối với tất cả mọi mặt hàng không vượt quá 5% (ví dụ đường mía năm 2006, thịt và các bộ phận nội tạng gia cầm năm 2005 …); Trong danh mục các nông sản chưa chế biến nhạy cảm (SEL) có 51 nông sản có thời hạn cắt giảm thuế và hàng rào phi thuế chậm hơn, có thể sau năm 2006 nhưng đến năm 2013 thuế suất đối với toàn bộ nông sản chưa chế biến thuộc danh mục SEL không quá 5% và toàn bộ hàng rào phi thuế phải bãi bỏ. Như vậy, từ năm 2006 các nông sản chế biến và tới khoảng năm 2010 nhiều nông sản chưa chế biến có thể vào thị trường nước ta không bị cản trơ về thuế và hàng rào phi thuế. 2/ Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ: Mặc dù được ký kết muộn hơn (tháng 7/2000) và thời gian thực hiện dài hơn (Việt Nam có thể duy trì biện pháp hạn chế định lượng đối với nhiều loại nông sản nhập khẩu từ Mỹ tới khoảng 2006, trong đó có sản phẩm thịt và chế phẩm dùng sản xuất thức ăn động vật nuôi), nhưng từ năm 2004 – 2006 các doanh nghiệp Mỹ được phép kinh doanh nhập khẩu và phân phối một số sản phẩm, trong đó có động vật sống ở thị trường Việt Nam. 3/  Nước ta cũng đã chấp thuận yêu cầu tự do hoá thương mại của IMF và WB theo hướng bỏ các hạn chế định lượng với AFTA trên cơ sở qui chế tối huệ quốc vào năm 2003. 4/ Trong quá trình đàm phán để gia nhập WTO, nước ta có thể phải cam kết ràng buộc về thuế quan đối với tất cả mọi hàng nông sản tại thời điểm gia nhập, theo đó mức thuế xuất nhập khẩu đối với tất cả các hàng nông sản sẽ thấp (theo kinh nghiệm Trung Quốc mức này là 36,2% năm 1992 còn 17,4% năm 1998 và dự định giảm còn 14,5% năm 2005). Về các hàng rào phi thuế, tại thời đIểm gia nhập nước ta phải loại bỏ mọi biện pháp hạn chế định lượng như hạn ngạch hay giấy phép xuất khẩu. Hơn nữa, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ dần dần được phép tham gia kinh doanh phân phối các loại nông sản trên thị trường nước ta. Về hỗ trợ trong nước, các nước thành viên đang phát triển chỉ được phép hỗ trợ cho một ngành nông nghiệp nào đó không quá 10% tổng giá trị của ngành nông nghiệp đó. Về trợ cấp xuất khẩu, nước ta có thể phải cam kết không trợ cấp xuất khẩu nông sản, nhưng với thành viên đang phát triển thì chúng ta vẫn có thể trợ cấp cho các khâu liên quan đến vận tải, đóng gói hoặc tiếp thị. Về các biện pháp kiểm dịch động vật nuôi trồng, ta phải cam kết thực hiện các qui định của WTO, nghĩa là không thể lợi dụng các biện pháp này nhằm mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước.

Trong khuôn khổ của các cam kết để hội nhập như trên, có thể nói thị trường nông nghiệp Việt Nam đang trong quá trình đổi mới trên nhiều phương diện như: cung, cầu, cạnh tranh, các công cụ điều tiết v.v… cho phù hợp với thông lệ quốc tế. Như vậy , việc hội nhập hoàn toàn và đúng lộ trình thời gian là đòi hỏi bắt buộc của đổi mới cơ chế thị trường cho phát triển nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay.