Thị trường xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam

Đến nay , hàng thuỷ sản xuất khẩu của việt nam đã có mặt ở 64 nước trên thế giới. Tuy nhiên, gần 80% trị giá xuất khẩu thuỷ sản tập trung vào 4 thị trường chủ lực là Nhật bản, Mỹ, EU, Trung quốc và Hồng kông. ghiên cứu tình hình xuất khẩu hàng tuỷ sản của Việt nam trong năm 2000 có thể chia làm 3 nhóm.

Nhóm 1: là nhóm thị trường lớn có mức nhập khẩu thuỷ sản từ Việt nam có giá trị từ 10 triệu – 400 triệu USD gồm 16 thị trường là Nhật Bản, Mỹ, Trung quốc và Hồng kông, Đài loan, Hàn quốc, Thái lan, Hà lan, Singapore, Chiều tiên, canada, Bỉ, Úc, Italia, Anh, Malaysia.

Nhóm 2 Là nhóm thị trường có mức nhập khẩu thuỷ sản của Việt nam từ 1- 9 triệu USD bao gồm: Thuỵ sỹ, Pháp, Tây ban nha, Thuỷ điển, Campuchia và Indônesia.

Nhóm 3 gồm 42 nước còn lại nhập khẩu dưới 1 triệu USD mỗi năm. Sau đây chỉ tập trung nghiên cứu những thị trường chủ yếu có mức tăng trưởng cao  và có kim ngạch nhập khẩu lớn.

1 Thị trường Mỹ

Mỹ đang là một thị trường nhiều triển vọng mà Việt nam mới bắt đầu khai thác. Thị trường này có sức mua rất lớn và giá cả tương đối ổn định, tuy nhiên trong thời gian qua, hàng thuỷ sản Việt nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ vẫn còn rất khiêm tốn so với nhu cầu nhập khẩu mặt hàng này của Mỹ.

Với GDP bình quân đầu người  năm 2000 là  32000USD, mức tăng trưởng trung bình của nền kinh tế là 4%/năm, Mỹ là một thị trường có sức tiêu dùng rất cao, đặc biệt là hàng thuỷ sản. Trung bình mỗi năm người Mỹ tiêu dùng 4,9 pounds thuỷ sản tương đương 8 kg, tăng 44,6% so với năm 19960 và 19,5% so với năm 19980. Trong tương lai,  mức tiêu thụ thuỷ sản ngày càng tăng mạnh do xu hướng ngày càng có nhiều người Mỹ chuyển sang sử dụng sản phẩm thuỷ sản cho bữa ăn chính trong gia đình. Theo thống kê của Bộ thuỷ sản Mỹ, người Mỹ hiện sử dụng  xấp xỉ 20% tổng sản lượng thuỷ sản thế giới, trong số đó  thì  hơn một nửa  là thuỷ sản nhập khẩu. Tại Mỹ có nhiều cơ sở chế biến phải sử dụng nguyên liệu ngoại nhập. Có khoảng 1000 cơ sở chế biến cả nước phụ thuộc hoàn toàn  vào nguyên liệu ngoại nhập. Do đó, Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu thuỷ sản hấp dẫn đối với tất cả các nước trên thế giới trong đó có Việt nam. Chỉ cần tăng lên 1% trong kim ngạch nhập khẩu thuỷ sản của Mỹ cũng đã mở ra cơ hội vàng cho Việt nam tăng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản lên gấp hai lần.

Chính vì vậy, ngay từ năm 1994, Việt nam đã bắt đẫu xuất khẩu thuỷ  sản vào thị trường Mỹ với kim ngạch khoảng 6 triệu USD. Và con số nay đã được tăng lên nhanh chóng qua các năm, 1999 xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường này đạt 125,9 triệu USD, năm 2000 đạt 304,359 triệu USD, và đến năm 2001, đã tăng lên 500 triệu USD, biến thị trường Mỹ trở thành thị trường chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam, từ 11,6% thị phần năm 1998 đã tăng lên 28,92% vào năm 2001 và khả năng thị phần xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam vào thị trường Mỹ còn tiếp tục tăng trong thời gian tới.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó, trong thời gian vừa qua, Ngành thuỷ sản Việt nam cũng gặp không ít khó khăn trong việc xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Mỹ. Đó là các nhà sản xuất cá nheo của Mỹ đang thực hiện các biện pháp để hạn chế việc xuất khẩu các sản phẩm cá tra và cá basa của ta, như tuyên truyền cá của Việt nam không đáp ứng được các yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm, nuôi trồng trong điều kiện ô nhiễm. Đồng thời một số Nghị sỹ của Mỹ yêu cầu áp dụng luật chống phá giá do giá cá của ta rẻ hơn cá catfish của Mỹ 1USD/kg và tốc độ xuất khẩu vào Mỹ tăng nhanh. Và đặc biệt  ngày 1/7/2000 họ còn đưa ra Quốc hội Hoa kỳ dự luật HR 2439, gọi là ( Country of origin labelling Bill” ( nhãn mác của nước xuất xứ).Dự luật HR2330 liên quan đến cá tra và cá báa của Việt nam nhập khẩu vào thị trường Mỹ.

2 Thị trường Nhật Bản

Nhật Bản là thị trường nhập khẩu hàng thuỷ sản lớn nhất thế giới, đồng thời cùng là nước nhập khẩu thuỷ sản lớn với kim ngạch nhập khẩu lên tới 15 tỷ USD/ năm. Mặc dù từ năm 2001 đến nay, thị trường Mỹ luôn chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam, nhưng về lâu dài, Nhật Bản vẫn là thị trường chiến lược và là thị trường chính của thuỷ sản Việt nam. Đây là thị trường có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam và bất kỳ sự thay đổi nào của thị trường này cũng đều có tác động đáng kể đến sản lượng và giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam.

Trong những năm gần đây, mặc dù kinh tế Nhật Bản gặp rất nhiều khó khăn, đồng Yên liên tục mất giá, nhưng quan hệ thương mại Việt –Nhật vẫn có những bước phát triển khá tốt đẹp, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá nói chung và xuất khẩu thuỷ sản nói riêng của Việt nam sang Nhật liên tục tăng qua các năm cụ thể là năm 1999 kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 412,347 triệu USD thì đến năm 2001 con số nay đã tăng lên 474,755 triệu USD, chiểm khoảng 26,2% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của nước ta. và dự kiến đến năm 2005 con số này sẽ tăng lên 500 triệu USD.

3 Thị trường EU

Với mức tiêu thụ thuỷ sản trung bình khoảng 17kg/người/năm. EU là một trong những thị trường nhập khẩu thuỷ sản lớn trên thế giới. hàng năm nhập khẩu khoảng 1250 nghìn tấn, tương đương với 850 triệu USD.

Việt nam bắt đầu có quan hệ ngoại giao với EU từ tháng 10/1990, tuy nhiên, phải đến tháng 11/1999, EU mới dành cho hưởng hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập GSP. Theo chế độ này, tuỳ theo mức độ nhạy cảm của hàng hoá  ( mức độ ảnh hưởng đến xuất khẩu của EU) mà một mặt hàng có thể được giảm từ 15,3 – 60% mức thuế MFN áp dụng cho mặt hàng đó, thậm chí còn được miễn thuế. Nhờ đó kim ngạch mậu dịch hai chiều Việt nam –EU năm 1999 đã tăng 12 lần, chiếm khoảng 20-25% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong đó thuỷ sản là một trong những mặt hàng chủ yếu xuất khẩu sang EU. Giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vào EU năm 1997 mới đạt 69,619 triệu USD ( chiếm tỷ trọng 8,97%), thì đến năm 1998 đã tăng lên 91,539 triẹu USD ( chiếm 10,66%). Riêng năm 1999, xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam gặp nhiều khó khăn  vì những yếu tố nghiêm ngặt về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm nên hàng thuỷ sản của Việt nam không được EU đánh giá cao, do đó sản lượng xuất khẩu thuỷ sản không đổi nhưng về kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản giảm đi đôi chút, còn 89,113 triệu USD và chỉ có 18 doanh nghiệp được phép xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường EU.

Tuy nhiên, bằng những nỗ lực vượt bậc, Việt nam đã nhanh chóng tìm lại và củng cố vị trí của mình tại thị trường này.  Tháng 9/1999, Uỷ ban liên minh châu Âu đã công nhận Việt nam vào danh sách 1 trong các nước xuất khẩu thuỷ sản vào EU và tháng 4/2000, lại công nhận Việt nam vào danh sách 1 trong các nước xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ vào EU. Nhất là trong năm 2001 vừa qua, 61 doanh nghiệp Việt nam đã được phép xuất khẩu hàng thuỷ sản sang EU. Chính vì vậy tuy tỷ trọng kim ngạch có giảm, năm 1998 là 10,66% xuống còn 6,73% năm 2001 nhưng kim ngạch tăng từ 91,539 triệu USD năm 1998 lên 120,265 triệu USD năm 2001. EU trở thành 1 trong ba thị trường xuất khẩu thuỷ sản chính của Việt nam.

Như vậy, EU là một thị trường vừa mang các yếu tố của thị trường tiêu thụ lại vừa mạng yếu tố giúp nâng cao uy tín hàng thuỷ sản Việt nam trên thị trường Quốc tế, giúp thực hiện thành công đa dạng hoá thị trường xuấ khẩu và làm cân bằng các thị trường xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam. Bởi vì xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường này có ý nghĩa có trong tay chứng chỉ về trình độ chất lượng thuỷ sản xuất khẩu cao. Tuy nhiên, đây là một thị trường khó tính, có chọn lọc và yêu cầu nghiêm ngặt về tiêu chuẩn chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm cao. Chính vì vậy để tăng cường thị phần ở thị trường này thì Việt nam tất yếu phải cải tiến công nghệ chế biến thuỷ sản xuất khẩu, bên cạnh đó phải chú trọng hơn nữa công tác nuôi trồng thuỷ sản, đa dạng hoá sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu và đặc biệt là sản phẩm nhuyễn thể hai mảnh vỏ  mà Việt nam đang có thế mạnh ở thị trường này.

4 Thị trường Trung Quốc

Cùng với thị trường Mỹ, thị trường Trung Quốc đang nổi lên như một thị trường thu hút hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt nam với kim ngạch tăng nhanh từ 37 triệu USD năm 1999 lên 222,972 triệu USD năm 2000 và 240,013 năm 2001 và đang đứng thứ tư trong 10 nước nhập khẩu hàng  thuỷ sản nhiều nhất của Việt nam. Đây là một thị trường có nhu cầu lớn, đa dạng lại không quá khó tính về chất lượng và an toàn  vệ sinh thực phẩm. Tuy nhiên , do quan hệ thương mại và thanh toán giữa hai nước còn nhiều khó khăn nên hàng thuỷ sản của Việt nam xuất chính ngạch vào thị trường Trung Quốc còn quá ít mà chủ yếu xuất bằng đường tiểu ngạch qua một số tỉnh vùng biên giới phía đông nam với các loại sản phẩm chủ yếu là nguyên liệu tươi sống, sản phẩm khô… có giá trị chưa cao. Chính vì vậy trong thời gian tới Ngành thuỷ sản cần đẩy mạnh hơn nữa công tác xúc tiến để nâng cao giá trị cũng như chất lượng hàng thuỷ sản xuất khẩu sang thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng này.

5 Thị trường các nước châu Á khác

Đây là thị trường truyền thống có sức tiêu thụ khá lớn. Chủng loại mặt hàng đa dạng, phù hợp  với cơ cấu nguồn lợi Biển Việt nam, trung bình giai đoạn (1990 –1999) chiếm tỷ trọng 17-25%.

Tuy nhiên, thị trường này chủ yếu nhập khẩu hàng tươi sống, sơ chế hoặc nguyên liệu, đồng thời là khu vực cạnh tranh với ta về xuất khẩu. Mặt khác do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế  của các nước Chấu Á trong những năm gần đây nên xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam vào thị trường này suy giảm và không ổn định. Năm 1998, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này chiếm 21% , năm 1999 tăng lên 23% kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam.