Thỏa thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp

 Nếu một thị trường mà ở đó, người tiêu dùng có thể hưởng nhờ lợi ích từ cạnh tranh thì chắc chắn sẽ tồn tại sự tranh đua hạ giá bán hoặc tăng cao giá mua giữa các doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh của nhau. Quyền lựa chọn của khách hàng được tôn trọng sẽ sinh ra một cách tự nhiên cơ chế hình thành giá cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ, các doanh nghiệp đua nhau mua chuộc khách hàng bằng những mức giá hấp dẫn. Tính chất tự nhiên của cơ chế giá cạnh tranh đòi hỏi sự trung thực và thái độ tích cực của các nhà kinh doanh khi đối diện với sức ép của cạnh tranh trong đời sống thị trường. Sự giục giã của lợi nhuận cũng làm xuất hiện những toan tính loại bỏ sức ép của cạnh tranh qua giá bằng cách liên kết các đối thủ cạnh tranh với một chiến lược kinh doanh thống nhất.

Thỏa thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ là việc các doanh nghiệp thống nhất áp dụng một mức giá hoặc một cách thức tính giá chung khi mua, bán hàng hóa, dịch vụ với các khách hàng hoặc trao đổi thông tin về giá để tạo nên những phản ứng thống nhất về giá hàng hóa, dịch vụ khi đàm phán với khách hàng. Khi phân tích bản chất của thỏa thuận ấn định giá cần làm rõ những nội dung cơ bản sau đây:

1. Thỏa thuận ấn định giá có thể xảy ra ở giao dịch mua hoặc bán mà các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận sẽ giao kết trong tương lai với khách hàng

Thông thường, với các thỏa thuận về giá bán hàng hoá, dịch vụ, các doanh nghiệp thường áp dụng mức giá cao hơn so với giá được hình thành trong môi trường có cạnh tranh, và ngược lại trong các thoả thuận về giá mua hàng hoá, dịch vụ, giá mua hàng hoá, dịch vụ sẽ là thấp hơn giá cạnh tranh (ép giá).

2 .  Nội dung của thỏa thuận

–    Thống nhất áp dụng giá đối với một số hoặc tất cả khách hàng;

–    Thống nhất cùng tăng giá ở các mức độ cụ thể; thỏa thuận áp dụng chung công thức tính giá;

–    Thỏa thuận duy trì tỷ lệ cố định về giá của sản phẩm cạnh tranh giống nhau nhưng không đồng nhất;

–    Loại trừ việc chiết khấu giá hoặc thiết lập mức chiết khấu đồng bộ;

–    Duy trì tỷ lệ cố định về giá của sản phẩm liên quan;

–    Dành hạn mức tín dụng cho khách hàng;

–    Không giảm giá nếu không thông báo cho các thành viên khác của thoả thuận; Sử dụng mức giá thống nhất tại thời điểm các cuộc đàm phán về giá bắt đầu(Điều 14 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.).

Từ những tác động của nội dung thỏa thuận đến giá mua, giá bán hàng hóa dịch vụ, thỏa thuận giá có thể được phân chia thành hai nhóm:

Thứ nhất, các thỏa thuận trực tiếp ấn định giá mua, bán bao gồm việc các doanh nghiệp thỏa thuận áp dụng thống nhất mức giá với một số hoặc tất cả khách hàng; hoặc tăng giá hoặc giảm giá ở mức cụ thể; hoặc áp dụng công thức tính giá chung. Bằng những thỏa thuận này, các doanh nghiệp đã tạo ra mặt bằng chung về giá mua, bán hàng hóa trên thị trường. Khi đó, giá mua, bán không được hình thành từ những quy luật của thị trường như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh và quan hệ cung cầu mà do thỏa thuận giữa các doanh nghiệp tạo nên.

Thứ hai, các thỏa thuận gián tiếp tác động đến giá mua, bán hàng hóa dịch vụ bao gồm việc các doanh nghiệp thỏa thuận thỏa thuận duy trì tỷ lệ cố định về giá của sản phẩm cạnh tranh giống nhau nhưng không đồng nhất; loại trừ việc chiết khấu giá hoặc thiết lập mức chiết khấu đồng bộ; duy trì tỷ lệ cố định về giá của sản phẩm liên quan; dành hạn mức tín dụng cho khách hàng; không giảm giá nếu không thông báo cho các thành viên khác của thoả thuận; sử dụng mức giá thống nhất tại thời điểm các cuộc đàm phán về giá bắt đầu. Các thỏa thuận này không trực tiếp tạo nên mặt bằng chung về giá nhưng chúng lại có tác dụng khuyến khích doanh nghiệp tham gia thực hiện việc định giá theo những chuẩn mực định sẵn thay vì định giá một cách tự do và độc lập tùy theo điều kiện riêng. Do đó, cho dù mức giá mua, bán của các doanh nghiệp không như nhau, song hành vi định giá của từng doanh nghiệp không hoàn toàn diễn ra theo các quy luật của thị trường cạnh tranh mà đã chịu sự chi phối bởi nội dung của thỏa thuận.  Việc chứng minh được có sự tồn tại của một trong những thoả thuận nói trên giữa các doanh nghiệp, cơ quan cạnh tranh sẽ khẳng định đã có thỏa thuận ấn định giá, mà không cần phải chứng minh tính vô lý của mức giá được các bên ấn định. Cho dù có nội dung là mức giá thống nhất hay một công thức tính giá chung thì kết quả cuối cùng của thỏa thuận ấn định giá sẽ dẫn đế không còn sự cạnh tranh về giá giữa các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận với nhau. Nếu thỏa thuận không bị ngăn chặn, các doanh nghiệp sẽ cùng tăng giá hoặc ép giá đối với khách hàng trong các giao dịch mua hoặc bán hàng hóa, dịch vụ.

Dưới góc độ lý thuyết, thỏa thuận ấn định giá sẽ gây thiệt hại cho khách hàng do mức giá được ấn định trực tiếp hoặc gián tiếp đã loại bỏ sự cạnh tranh về giá giữa các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận. Mặc dù không đòi hỏi mức giá được ấn định mang bản chất của sự bóc lột, Luật Cạnh tranh chỉ cần xác định rằng, có tồn tại của một thỏa thuận về giá là đủ để kết luận về sự vi phạm. Do đó, khi phân tích về hậu quả của hành vi thỏa thuận ấn định giá cần làm rõ:

Một, tước đoạt cơ hội của khách hàng được lựa chọn các mức giá cạnh tranh hợp lý trên thị trường;

 Hai, làm giảm mức độ của cạnh tranh bằng cách xoá bỏ cạnh tranh về giá hàng hoá, dịch vụ giữa các thành viên của thỏa thuận.

Trong thực tế của thị trường Việt Nam, đã từng tồn tại những ví dụ liên quan đến những thoả thuận về giá như trường hợp thỏa thuận của các hãng taxi trong Hiệp hội taxi vào năm 2000, 2001; hoặc vụ việc các doanh nghiệp bảo hiểm thỏa thuận tăng mức phí tối thiểu đối với dịch vụ bảo hiệm vật chất xe ôtô vào năm 2008.

Ngày 25/3/2000 Hợp tác xã Sao Việt đã gây chấn động mạnh tới Hiệp hội Taxi thành phố Hồ Chí Minh với 14 doanh nghiệp bởi việc công bố giá cước taxi là 10.000 đồng/2 km đầu và 5.000 đồng/km tiếp theo, thấp hơn 2.000 đồng so với giá 12.000 đồng/2 km đầu của Hiệp hội. Chưa hết, tới giữa tháng 4/2000 Sao Việt đã họp xã viên và một lần nữa gây chấn động Hiệp hội khi biểu quyết thông qua giá cước mới 8.000 đồng/2 km đầu và 4.500 đồng/km tiếp theo. Sự thành công và sự ủng hộ của khách hàng đối với Sao Việt thể hiện cụ thể bằng sự phát triển từ vài chục xe ban đầu lên đến 216 xe. Điều kỳ lạ là thành công đó lại gặp sự chống đối quyết liệt của chính Hiệp hội Taxi thành phố Hồ Chí Minh. Bằng sự độc quyền của mình, 14 doanh nghiệp taxi thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi thành lập Hiệp hội năm 1997 đã thống nhất đồng loạt tăng giá cước từ 6.000 đồng/km đầu tiên lên 12.000 đồng/2 km đầu và 5.000 đồng/km tiếp theo. Nay với sự tham gia của Sao Việt, một yếu tố cạnh tranh lành mạnh xuất hiện, thế độc quyền kìm hãm sự phát triển đã bị phá vỡ và người được lợi là khách hàng(Báo Lao động số 83 ngày 26/4/2000.)…

Tháng 10/2008, 20 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm đã cùng nhau ký bản thỏa thuận về mức phí bảo hiểm tiêu chuẩn ôtô. Theo đó, mức phí bảo hiểm tăng từ 1,3% lên 1,56%/năm. Những doanh nghiệp tham gia ký thỏa thuận mà không thu đúng sẽ bị hiệp hội bảo hiểm phạt 10% số phí bảo hiểm thu được của hợp đồng vi phạm nhưng tối thiểu 10 triệu đồng đối với bảo hiểm tàu biển và 5 triệu đồng với bảo hiểm hàng hóa. Trong bản thỏa thuận đã khẳng định việc thống nhất tăng phí bảo hiểm nhằm giảm những thiệt hại do cạnh tranh gây ra cho  các doanh nghiệp và đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp(Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh, số ra ngày 26/11/2008, tr 11.).