Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng

 Điều 18 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP đã chia thỏa thuận này thành hai thỏa thuận cụ thể:

1. Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ là việc các doanh nghiệp thống nhất đặt ra một hoặc một số điều kiện tiên quyết buộc khách hàng phải chấp nhận trước khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa dịch vụ với họ

Trong cấu thành pháp lý của thỏa thuận này, có một số vấn đề cần lưu ý như sau:

Thứ nhất, Khoản 5 Điều 8 Luật Cạnh tranh chỉ áp dụng đối với các hợp đồng mua bán giữa doanh nghiệp tham gia thỏa thuận với khách hàng là các doanh nghiệp khác. Thế nên, việc các doanh nghiệp đặt ra các điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ với các tổ chức, cá nhân là người tiêu dùng sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định này.

 Thứ hai, các điều kiện mà thỏa thuận đặt ra phải là những điều kiện có nội dung phản cạnh tranh. Như vậy, bằng quy định này, pháp luật cạnh tranh không cấm các doanh nghiệp thỏa thuận hoặc đơn phương đặt ra các điều kiện buộc khách hàng phải chấp nhận khi ký kết hợp đồng nếu các điều kiện đó không phản cạnh tranh. Trong thực tế, các doanh nghiệp thường sử dụng các tiêu chuẩn về năng lực tài chính, về kinh nghiệm, về kỹ thuật… làm căn cứ để chọn lọc khách hàng, đảm bảo cho các hợp đồng mua bán được ký kết và thực hiện hiệu quả. Trong trường hợp này, việc áp đặt điều kiện với khách hàng không nhằm mục đích và không gây ra hậu quả hạn chế cạnh tranh nên pháp luật cạnh tranh không thể cấm đoán. Sẽ là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nếu các điều kiện được thống nhất giữa các doanh nghiệp là điều kiện hạn chế cạnh tranh.

Nghị định số 116/2005/NĐ-CP đã liệt kê 04 điều kiện có nội dung phản cạnh tranh, bao gồm:

–  Hạn chế về sản xuất, phân phối hàng hoá khác; mua, cung ứng dịch vụ khác không liên quan trực tiếp đến cam kết của bên nhận đại lý theo quy định của pháp luật về đại lý;  – Hạn chế về địa điểm bán lại hàng hoá, trừ những hàng hoá thuộc danh mục mặt hàng kinh doanh có điều kiện, mặt hàng hạn chế kinh doanh theo quy định của pháp luật;  – Hạn chế về khách hàng mua hàng hoá để bán lại, trừ những hàng hoá quy định tại điểm b khoản này;

–  Hạn chế về hình thức, số lượng hàng hoá được cung cấp(Khoản 1 Điều 18 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.).

Nội dung của các điều kiện trên cho thấy mục đích của thỏa thuận nhằm hạn chế khả năng phân phối của các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận hoặc hạn chế năng lực sản xuất kinh doanh của khách hàng bao gồm:

–  Với việc buộc khách hàng chấp nhận không phối hàng hóa khác, không mua, cung ứng dịch vụ khác không liên quan trực tiếp đến cam kết của bên nhận đại lý theo quy định của pháp luật về đại lý, thỏa thuận này không chỉ làm giảm năng lực kinh doanh của khách hàng mà còn cản trở việc phân phối hàng hóa, mua bán dịch vụ của các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận. Các doanh nghiệp khác không thể mua, bán sản phẩm với khách hàng của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận.

–  Việc hạn chế khả năng sản xuất, phân phối hàng hóa khác, hạn chế về địa điểm bán lại và khách hàng mua hàng hóa để bán lại, hạn chế về hình thức, số lượng hàng hóa được cung cấp cho thấy mục đích của thỏa thuận là làm giảm năng lực kinh doanh của khách hàng.

Đương nhiên, hai mục đích trên chỉ thực hiện được khi sức mạnh tổng hợp của các doanh nghiệp tham gia đủ chi phối thị trường liên quan. Bởi lẽ, khách hàng sẽ chỉ chấp nhận những hạn chế trên khi quyền lựa chọn của họ bị hạn chế và nhu cầu của họ phụ thuộc vào khả năng cung ứng của doanh nghiệp. Trong trường hợp không tồn tại quyền lực thị trường, khách hàng có thể sử dụng quyền lựa chọn để từ chối ký kết những hợp đồng có các điều kiện bất lợi cho họ.

Thứ ba, các điều kiện được đặt ra phải là điều kiện tiên quyết để có thể ký kết hợp đồng. Có nghĩa là, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận đã đặt khách hàng của họ vào tình trạng buộc phải lựa chọn giữa việc chấp nhận các điều kiện được đưa ra để có được hợp đồng mua bán hoặc không có được hợp đồng nếu không chấp nhận những điều kiện trên. Về mặt hình thức, các điều kiện được đưa ra có thể tìm thấy trong đơn chào hàng, bản ghi nhớ hoặc trong các điều khoản của hợp đồng mua bán, song trong mọi trường hợp, khách hàng đều không có sự lựa chọn khác nếu muốn có được hợp đồng với các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận.

.2. Buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng là việc thống nhất ràng buộc doanh nghiệp khác khi mua, bán hàng hoá, dịch vụ với bất kỳ doanh nghiệp nào tham gia thỏa thuận phải thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng(Khoản 2 Điều 18 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.)

Với quy định này, cấu thành pháp lý của thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng bao gồm các thành tố sau đây:

 Một, khách hàng trong hợp đồng mua bán phải là các tổ chức, cá nhân kinh doanh mà không thể là người tiêu dùng.

Hai, các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng bao gồm khách hàng buộc phải chấp nhận mua thêm hàng hóa, dịch vụ khác từ nhà cung cấp hoặc người được chỉ định trước hoặc phải thực hiện thêm một hoặc một số nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng(Điều 18 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.)

Như vậy, nếu thỏa thuận này được thực hiện, các hợp đồng mua bán giữa doanh nghiệp tham gia và khách hàng sẽ có hai đối tượng được mua, bán là hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng mong muốn có được hoặc bán được (đối tượng chính) và hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng phải mua thêm hoặc những nghĩa vụ mà khách hàng phải thực hiện thêm (đối tượng phụ). Trong đó, đối tượng phụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng chính của hợp đồng. Cho đến nay, Luật Cạnh tranh chưa giải nghĩa thế nào là không liên quan đến đối tượng của hợp đồng. Thông thường, hai đối tượng trên không liên quan trực tiếp đến nhau nếu không có đối tượng phụ thì khách hàng vẫn có thể khai thác triệt để chức năng của đối tượng chính trong hợp đồng mua, bán.

Trong lý thuyết cạnh tranh, loại thỏa thuận này bị lên án bởi nó tạo ra các hợp đồng mua bán kèm. Hợp đồng mua bán kèm luôn là những hợp đồng gây bất lợi cho khách hàng. Các doanh nghiệp cũng chỉ có thể buộc khách hàng ký kết hợp đồng mua, bán kèm khi có được quyền lực thị trường. Những bất lợi mà khách hàng phải gánh chịu cho thấy môi trường và hiệu quả của cạnh tranh đã bị sai lệch và suy giảm nghiêm trọng. Bằng thỏa thuận, các doanh nghiệp đã tạo nên khả năng chi phối thị trường và lợi dụng khả năng đó để bóc lột khách hàng.

 

(58)

(59)