Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ

Điều 16 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP phân chia thỏa thuận này thành 2 loại:

Một, thỏa thuận hạn chế số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ là việc thống nhất cắt giảm số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ so với trước đó

Với quy định này, pháp luật không yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh về mục đích hay hậu quả thực tế của thỏa thuận mà chỉ cần có bằng chứng về việc các doanh nghiệp đã thống nhất cắt giảm lượng cung, cầu của một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định là có thể định danh được thỏa thuận hạn chế số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ. Mặt khác, pháp luật chưa định lượng tỷ lệ hoặc mức cắt giảm nguồn cung hoặc nguồn cầu của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường để cấu thành thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Vì vậy, cấu thành pháp lý của loại thỏa thuận này chỉ có hai dấu hiệu là: (1) có sự thống nhất ý chí của các doanh nghiệp tham gia; (2) các doanh nghiệp đồng ý cùng nhau cắt giảm số lượng, khối lượng hàng hóa, dịch vụ mà họ sản xuất, mua bán hoặc cung ứng so với trước đó.

Hai, thỏa thuận kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ là việc thống nhất ấn định số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ ở mức đủ để tạo khan hiếm trên thị trường(Điều 16 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.).

Như vậy, cấu thành pháp lý của thỏa thuận này bao gồm ba yếu tố cơ bản: (1) có sự thống nhất ý chí của các doanh nghiệp tham gia; (2) các doanh nghiệp ấn định lượng hàng hóa, dịch vụ mà mỗi doanh nghiệp được sản xuất, mua, bán hoặc cung ứng; (3) lượng hàng hóa, dịch vụ được ấn định ở mức đủ tạo khan hiếm trên thị trường. Khác với thỏa thuận thứ nhất, cấu thành của thỏa thuận này đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải xác định được tác động hoặc khả năng tác động của thỏa thuận đến nguồn cung, cầu của thị trường. Theo đó, nếu thỏa thuận được thực hiện trên thực tế thì lượng hàng hóa, dịch vụ được sản xuất, mua, bán sẽ luôn thấp hơn nhu cầu của thị trường và thấp hơn ở mức đủ tạo khan hiếm. Vấn đề là pháp luật chưa giải nghĩa thế nào là đủ tạo khan hiếm trên thị trường.

Suy cho cùng, hai loại thỏa thuận trên là những toan tính tác động trực tiếp đến sự cân bằng cung cầu của thị trường bằng cách tạo ra sự khan hiếm giả tạo về hàng hóa, dịch vụ mà các doanh nghiệp kinh doanh. Sự khan hiếm giả tạo được chứng minh bằng năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận, theo đó họ đã thống nhất cắt giảm số lượng sản xuất, mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ hoặc ấn định số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hoá đủ để tạo khan hiếm trên thị trường trong khi năng lực sản xuất, mua bán hoặc cung ứng của họ đủ đáp ứng nhu cầu thị trường. Năng lực kinh doanh của doanh nghiệp được xác định bằng số lượng, khối lượng hàng hoá, dịch vụ đã sản xuất mua bán hoặc cung ứng trước khi có thỏa thuận.

Thực tế cho thấy, có nhiều lý do dẫn đến việc các doanh nghiệp cắt giảm hoặc ấn định lượng hàng hóa, dịch vụ được sản xuất, mua bán hoặc cung ứng như nhu cầu của thị trường đang giảm; đang có khủng hoảng kinh tế; các doanh nghiệp dự báo sai về tình hình phát triển hoặc suy thoái của thị trường; lượng hàng hóa tồn kho lớn; sản xuất dư thừa hoặc khi các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận muốn tăng giá sản phẩm…. Do đó, khi xử lý vụ việc về loại thỏa thuận này, cơ quan có thẩm quyền cần phân tích thêm tình hình thị trường, các yếu tố khách quan, chủ quan tác động đến doanh nghiệp và phân tích thật chính xác những tác động của hành vi đối với thị trường để có những quyết định đúng đắn. Những hạn chế nhằm giảm đi sự dư thừa sản phẩm trên thị trường trong những điều kiện khó khăn của nền kinh tế – xã hội sẽ là cần thiết. Ngược lại, các cơ quan công quyền cần cấm đoán và nghiêm trị những chiến lược làm giảm cung để tăng giá hòng bóc lột khách hàng.

Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hoặc cung ứng có gây ra tình trạng khan hiếm hàng hoá, dịch vụ trên thị trường, làm cho thị trường không được thỏa mãn đủ nhu cầu theo đúng năng lực kinh doanh hiện có; sự khan hiếm hàng hóa, dịch vụ do việc thực hiện thỏa thuận gây ra có thể sẽ đẩy giá hàng hoá, dịch vụ lên cao làm cho người tiêu dùng sẽ phải gánh chịu những thiệt hại từ mức giá đó; sự khan hiếm cũng có thể  gây ra những xáo trộn nhất định trong đời sống kinh tế – xã hội, dễ tạo ra những cuộc khủng hoảng hoặc những cơn sốt trên thị trường. Có thể lấy ví dụ về hậu quả của cơn sốt xi măng trong những năm 1995 – 1997 đã gây ra cho thị trường làm điển hình cho khả năng gây thiệt hại của nhóm thỏa thuận này.