Thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức trong điều kiện chạm ngưỡng nợ công và nợ nước ngoài

Trong nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, nguồn vốn ODA không hoàn lại chỉ chiếm tỷ trọng không quá 25% nguồn vốn, phần lớn các khoản vốn ODA là khoản vay ưu đãi. Với hầu hết các khoản nợ nước ngoài trong cơ cấu nợ công là các khoản vay ODA nên sự tăng nhanh của nguồn vốn ODA khiến tổng nợ nước ngoài tăng và kéo theo là quy mô nợ công tăng nhanh, như vậy rõ ràng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức sẽ làm gia tăng nợ công, đặc biệt là nợ nước ngoài. Nợ công của Việt Nam có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây, theo báo cáo chính thức cập nhật mới nhất của Chính phủ thì nợ công năm 2013 bằng 54,5% GDP, năm 2014 là 58% và năm 2015 lên đến 61% GDP. Cùng với đó, đáng chú ý là nợ nước ngoài so với GDP cũng có xu hướng tăng, khi năm 2013 chỉ ở mức 37,3% thì đến năm 2015 tăng lên 42%.

Trong cơ cấu nợ nước ngoài của Chính phủ thì vốn vay ODA, vay ưu đãi chiếm tỷ trọng trên 94%. Theo quyết định số 958/QĐ-TTg về “Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030” của thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì nợ công (bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương) đến năm 2020 không quá 65% GDP, trong đó dư nợ Chính phủ không quá 55% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP. Hiện tại chỉ số về nợ công của Việt Nam vẫn đang dưới 65% GDP và nợ nước ngoài vẫn đang dưới 50% GDP. Như vậy, nợ công và nợ nước ngoài tại Việt Nam vẫn trong giới hạn an toàn, tuy nhiên cũng đã gần chạm ngưỡng của Chính phủ đề ra. Vì vậy, công tác thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam cần phải gắn chặt trong bối cảnh Việt Nam đang chạm ngưỡng nợ công và nợ nước ngoài. Do nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức dễ tiếp cận, trong khi trách nhiệm của người đi vay không cao nên các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA có nguy cơ quản lý kém hiệu quả, đầu tư dàn trải gây lãng phí, nảy sinh vấn đề tham nhũng, hối lộ giữa nhà thầu và bên đại diện dự án. Các hành vi tiêu cực này sẽ được hạch toán vào chi phí thực hiện dự án khiến cho chi phí các chương trình, dự án ODA bị đội lên rất cao. Và cuối cùng gánh nặng trả nợ từ vay nợ ODA được chi trả từ tiền thuế mà người dân đóng góp, xã hội bị mất một khoản thuế do không quản lý dự án ODA hiệu quả và tham nhũng, hối lộ. Với hoàn cảnh Việt Nam đang thâm hụt ngân sách ở mức cao và dự trữ ngoại hối mỏng thì các vấn đề về nợ nước ngoài trở lên phức tạp hơn từ đó tiềm ẩn nhiều rủi ro gây mất an toàn nợ công. Nếu không duy trì được tốc độ tăng trưởng và các nguồn thu ngoại tệ, cũng như giảm thất thoát, tham nhũng trong quản lý và sử dụng vốn ODA thì Việt Nam cũng có thể phải đối mặt với khủng hoảng nợ. Vì vậy, Việt Nam rất cần thiết và cấp bách thực hiện các biện pháp sau: có chính sách thận trọng trong việc sử dụng vốn ODA dựa trên cơ sở chọn lọc và cân nhắc so sánh hiệu quả giữa nguồn vốn ODA và các nguồn vốn đầu tư phá triển khác để có những quyết sách đúng đắn đảm bảo an toàn nợ công, khống chế nợ ở ngưỡng an toàn; quyết định các chương trình, dự án ODA mang tính khả thi cao; tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan ban ngành liên quan trong việc lập kế hoạch cũng như giải quyết các vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện dự án để tránh tình trạng các dự án khác nhau bị trùng lắp gây lãng phí đầu tư; đối với các dự án mới cần rà soát và tập trung đầu tư những hạng mục cần thiết, cấp thiết, giảm bớt những hạng mục chưa cần thiết đầu tư để giảm áp lực trả nợ vốn vay ODA cho nhà tài trợ trong tương lai. Đặc biệt, đối với vốn ODA vay về cho vay lại cần chú trọng nâng cao hiệu quả với việc tăng cường cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp, phòng ngừa và giảm thiểu về rủi ro tăng nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của Chính phủ từ việc biến động tỷ giá và biến động lãi suất trên thị trường vốn quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng thương mại tham gia theo mô hình các tổ chức tín dụng vay lại vốn ODA và chịu rủi ro tín dụng, điều này làm giảm áp lực về nợ công của Chính phủ song vẫn đáp ứng được nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế xã hội và thực hiện các định hướng mục tiêu phát triển kinh tế đề ra.