Thủ tục thực hiện các trường hợp miễn trừ đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế

 

1.Bản chất của thủ tục miễn trừ

 Cơ chế miễn trừ được đặt ra  khi phân tích bản chất kinh tế, có nhiều trường hợp, hành vi thỏa thuận hoặc tập trung kinh tế của các doanh nghiệp đã cấu thành đủ các dấu hiệu để kết luận là vi phạm luật cạnh tranh, song lại có nhiều tác dụng tích cực cho sự phát triển của kinh tế – xã hội. Pháp luật của các nước trong đó có Việt Nam đã quy định khá chi tiết về những trường hợp được miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế. Do đó, khi đề cập đến thủ tục miễn trừ theo pháp luật cạnh tranh, cần nhấn mạnh một số nội dung sau đây:

–   Thủ tục miễn trừ được coi các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế thuộc trường hợp bị cấm nhưng thỏa mãn đủ điều kiện được miễn trừ được thực hiện các thỏa thuận, các hành vi tập trung kinh tế. Điều đó có nghĩa là các hành vi hạn chế cạnh tranh được miễn trừ không mặc nhiên được thực hiện khi thỏa mãn các điều kiện do luật định về mặt nội dung mà phải có được quyết định cho hưởng miễn trừ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

–   Thủ tục miễn trừ mang bản chất của thủ tục hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật cạnh tranh;

–   Quyết định cho hưởng miễn trừ không có giá trị vĩnh viễn, chúng luôn có giá trị trong một thời hạn nhất định(Trong quyết định cho hưởng miễn trừ luôn xác định thời hạn cho hiệu lực.) hoặc có thể được xem xét lại và có thể bị bãi bỏ theo quy định của pháp luật.

2.Thẩm quyền xem xét và quyết định cho hưởng miễn trừ

 Theo quy định của Luật Cạnh tranh và Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, các cơ quan có thẩm quyền xem xét và quyết định việc miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế bao gồm:

Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc miễn trừ đối với việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ;

Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) xem xét, quyết định việc miễn trừ đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và trường hợp tập trung kinh tế còn lại được miễn trừ theo Luật Cạnh tranh.

Cơ quan quản lý cạnh tranh có thẩm quyền thụ lý, thẩm định hồ sơ và đề xuất ý kiến để người có thẩm quyền quyết định.

Ngoài ra, đối với trường hợp tập trung kinh tế thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ, khi thẩm định hồ sơ, cơ quan quản lý cạnh tranh phải tham khảo ý kiến của các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc chính phủ và cơ quan, tổ chức khác có liên quan theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương).

3. Thủ tục thực hiện

 Quá trình thụ lý, xem xét hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ được thực hiện như sau:

 3.1 . Thụ lý hồ sơ

Các doanh nghiệp dự định tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế thuộc diện được hưởng miễn trừ là đối tượng nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ. Khi đó, các doanh nghiệp nói trên sẽ cử một đại diện làm thủ tục đề nghị hưởng miễn trừ (việc cử đại diện phải lập thành văn bản). Các bên vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi của bên đại diện trong phạm vi ủy quyền.

Hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ bao gồm:

–  Đơn đề nghị được hưởng miễn trừ;

–  Bản sao hợp lệ giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp có liên quan;  – Báo cáo tài chính trong hau năm liên tiếp gần nhất của từng doanh nghiệp tham gia;

–  Báo cáo giải trình cụ thể về việc đáp ứng các trường hợp được hưởng miễn trừ theo

Luật Cạnh tranh;

–  Báo cáo thị phần trong hai năm liên tiếp gần nhất của từng doanh nghiệp tham gia trên thị trường liên quan;

–  Văn bản ủy quyền của các doanh nghiệp tham gia cho bên đại diện.

Trong trường hợp doanh nghiệp tham gia mới được thành lập và họat động chưa đủ 1 năm thì báo cáo tài chính được thay thế bởi các tài liệu sau đây:

–  Bản kê khai vốn điều lệ, tài sản cố định, tài sản lưu động, công nợ có xác nhận của tổ chức kiểm toán độc lập được thành lập theo quy định của pháp luật;

–  Kê khai nộp thuế từ thời điểm doanh nghiệp bắt đầu hoạt động đến thời điểm 01 tháng trước ngày ghi trong đơn đề nghị hưởng miễn trừ.

Như vậy, trong hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ, các bên tham gia tập trung kinh tế hoặc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh phải đảm bảo chứng minh được các nội dung sau đây:

–  Tư cách pháp lý của các bên tham gia;

–  Vị trí của họ trên thị trường liên quan;

–  Các điều kiện được hưởng miễn trừ. Điều này cho thấy, trách nhiệm chứng minh về điều kiện được hưởng miễn trừ thuộc về các doanh nghiệp thực hiện hành vi mà không phải thuộc về cơ quan Nhà nước. Lúc này, các cơ quan có thẩm quyền chỉ xem xét và thẩm định các chứng cứ mà các bên đưa ra.

Vì lẽ đó, Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định:

Thứ nhất, báo cáo giải trình cụ thể việc đáp ứng điều kiện được hưởng miễn trừ phải được thực hiện dưới hình thức đề án nghiên cứu khả thi do tổ chức khoa học và công nghệ, các tổ chức nghiên cứu và phát triển được thành lập theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ thực hiện hoặc đánh giá hoặc phải chứng minh được việc một hay nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng bị phá sản theo quy định tại Điều 36 của Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.  Thứ hai, doanh nghiệp nộp hồ sơ và các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế chịu trách nhiệm về tính trung thực của hồ sơ. Doanh nghiệp nộp hồ sơ phải nộp phí thẩm định hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ.

Cơ quan Quản lý cạnh tranh có trách nhiệm thụ lý hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ.

 3.2 . Thẩm định hồ sơ

Trong quá trình thẩm định hồ sơ, cơ quan quản lý cạnh tranh có các quyền sau đây:  – Yêu cầu doanh nghiệp nộp hồ sơ bổ sung tài liệu, thông tin cần thiết khác liên quan đến dự định thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế và giải thích thêm những vấn đề chưa rõ ràng;

–  Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế đang được thụ lý;

–  Thẩm định hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ và kiến nghị Bộ trưởng Bộ Thương mại gửi văn bản xin ý kiến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ và cơ quan, tổ chức khác có liên quan về trường hợp đề nghị hưởng miễn trừ trong thời hạn 50 ngày, kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ;

– Lập văn bản thẩm định để trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định. Trong đó phải bao gồm các nội dung chủ yếu là:

+ Sự phù hợp của báo cáo giải trình với việc đáp ứng điều kiện được hưởng miễn trừ có thời hạn;

+ Những vấn đề còn có ý kiến khác nhau và phương án xử lý;

+ Ý kiến đề xuất của cơ quan quản lý cạnh tranh hoặc ý kiến đề xuất của Bộ trưởng  .Bộ Thương mại đối với trường hợp tập trung kinh tế thuộc thẩm quyền cho hưởng miễn trừ của Thủ tướng Chính phủ.

Doanh nghiệp đã nộp hồ sơ có thể rút đề nghị hưởng miễn trừ bằng một thông báo bằng văn bản cho cơ quan quản lý cạnh tranh. Trong trường hợp này, người đã nộp hồ sơ không được hòan lại lệ phí thẩm định hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ.

 3.3 . Giải quyết việc cho hưởng miễn trừ

Sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ, Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ trưởng Bộ Công Thương) sẽ ra một trong hai quyết định sau đây trong thời hạn được Luật Cạnh tranh quy định:  – Chấp thuận cho các bên được hưởng miễn trừ(Quyết định cho hưởng miễn trừ phải có đầy đủ các nội dung quy định tại Điều 35 Luật Cạnh tranh.);

– Không chấp thuận các bên được hưởng miễn trừ(Thời hạn để ra các quyết định trên là: đối với trường hợp do Bộ trưởng Bộ Thương mại quyết định, thời hạn ra quyết định là 60 ngày (có thể gia hạn không quá 2 lần, mỗi lần không quá 30 ngày); đối với trường hợp do Thủ tướng quyết định thời hạn ra quyết định là 90 ngày (nếu vụ việc là phức tạp thì thời hạn ra quyết định là 180 ngày)).

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định cho hưởng miễn trừ, cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm công khai quyết định cho hưởng miễn trừ đồng thời theo các hình thức sau đây:

–  Niêm yết tại trụ sở của cơ quan quản lý cạnh tranh;

–  Công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Quyết định cho hưởng miễn trừ có thể bị bãi bỏ. Người có thẩm quyền quyết định cho hưởng miễn trừ có thẩm quyền bãi bỏ quyết định đó trong những trường hợp sau:

–  Phát hiện có sự gian dối trong việc đề nghị hưởng miễn trừ(Những sai sót không bị coi là gian dối trong việc đề nghị hưởng miễn trừ bao gồm các lỗi chính tả, lỗi đánh máy, lỗi in ấn không liên quan đến số liệu báo cáo tài chính và không làm thay đổi nội dung cơ bản của báo cáo giải trình trong hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ.);

–  Doanh nghiệp được hưởng miễn trừ không thực hiện các điều kiện, nghĩa vụ trong thời hạn quy định tại quyết định cho hưởng miễn trừ;

–  Điều kiện cho hưởng miễn trừ không còn.