Thực trạng bảo hiểm vật chất xe cơ giới trên thị trường bảo hiểm Việt Nam

1.  Thị trường bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Việt Nam

Tại Việt Nam, lịch sử bảo hiểm thương mại gắn liền với sự ra đời của Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt). Ngày 20/11/1991 theo quyết định số 503TC/BH của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính, Công ty Bảo hiểm Việt Nam bắt đầu triển khai trên toàn quốc bảo hiểm vật chất xe cơ giới.

Ngày nay, việc mua bảo hiểm vật chất xe cơ giới đã ngày càng trở thành nhu cầu của các khách hàng đặc biệt là những khách hàng là công ty kinh doanh dịch vụ vận chuyển như: taxi trở khách, taxi trở hàng, hay ô tô trở hàng của những công ty kinh doanh lớn… góp phần vào ổn định kinh tế – xã hội.

2.  Tình hình khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Theo Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, năm 2012 ,Bảo hiểm xe cơ giới đạt doanh thu 6.329 tỉ đồng tăng trưởng 1,59%, đã giải quyết bồi thường 3.382 tỉ đồng, tỉ lệ đã trả bồi thường 53%. Dẫn đầu doanh thu là Bảo Việt 1.596 tỉ đồng, PJICO 997 tỉ đồng, PVI 566 tỉ đồng, PTI 699 tỉ đồng, Bảo Minh 561 tỉ đồng, PVI 508 tỉ đồng. Lần đầu tiên bảo hiểm xe cơ giới có tỉ lệ tăng trưởng thấp do lượng ô tô tăng thêm 98.000 chiếc (6,5% ô tô hiện có nhưng khấu hao bình quân 10% năm)

Là một trong những sản phẩm chủ lực của các doanh nghiệp bán lẻ, bảo hiểm  xe ô tô, bao hiem xe may luôn chiếm tỷ trọng doanh thu cao nhất trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ. Tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm xe cơ giới trên tổng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ toàn thị trường các năm từ 2008 đến 30/09/2012 lần lượt là 29%, 32%, 31,5%, 30% và 27,3%  . Với vai trò là sản phẩm chiến lược của các doanh nghiệp, bảo hiểm  xe ô tô, bao hiem xe may luôn là sản phẩm có sự cạnh tranh quyết liệt và mạnh mẽ nhất trên thị trường, kết quả là trong nhiều năm qua tăng trưởng của nghiệp vụ này luôn đạt trên hai con số.

Tuy nhiên, năm 2012 do ảnh hưởng ngày càng trầm trọng của suy thoái kinh tế cùng với các chính sách cắt giảm đầu tư công, cắt giảm chi tiêu ngân sách khiến cho năng lực tài chính của phần lớn các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân giảm đi rõ rệt. Điều này gây tác động không nhỏ tới thị trường bảo hiểm nói chung và bảo hiểm xe cơ giới nói riêng.

Trong khi doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ toàn thị trường 9 tháng đầu năm 2012 tăng 9,7%, thì doanh thu phí bảo hiểm  xe ô tô, bao hiem xe may chỉ tăng 0,53% so với cùng kỳ năm 2011.

Doanh thu tăng chậm phần lớn ảnh hưởng từ sự ảm đạm của thị trường tiêu thụ ô tô. Theo hiệp hội các nhà sản xuất xe hơi Việt Nam (VAMA) cho biết, lượng xe tiêu thụ 9 tháng đạt 65.086 xe, giảm 38% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xe con là 24.403 chiếc, giảm 49%, xe tải và các dòng xe còn lại là 40.683 chiếc, giảm 29%. Sự sụt giảm này của thị trường tiêu thụ ô tô đã ảnh hưởng trực tiếp đền thị trường bảo hiểm  xe ô tô, bao hiem xe may, vì hầu hết các xe nhập khẩu và xe lắp ráp mới đều tham gia bảo hiểm bắt buộc và tự nguyện trong lần mua- bán đầu tiên.

Bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới đạt doanh thu 1.343 tỉ đồng, giảm 6% so với năm 2011. Dẫn đầu là Bảo Việt 340 tỉ đồng, PJICO 269 tỉ đồng, Bảo Minh 189 tỉ đồng, PVI 137 tỉ đồng. Tổng số tiền đã bồi thường 527 tỉ đồng, tỉ lệ đã bồi thường 39%.

Có thể nói, sau một giai đoạn dài tăng trưởng mạnh cùng với sự sôi động của thị trường tiêu thụ ô tô, năm 2012, bảo hiểm xe cơ giới thực sự đã ngấm đòn của khủng hoảng kinh tế. Tăng trưởng 1,59% so với cùng kỳ năm trước là kết quả thể hiện sự khó khăn của nghiệp vụ này.

Tốc độ phát triển xe cơ giới ngày càng tăng và tăng lên một cách nhanh chóng, đặc biệt năm 2007 tăng 15,30% so với năm 2006 (tương ứng với 156.748 xe). Sự tăng lên nhanh chóng này là do nền kinh tế từ năm 2004 đến năm 2007 phát triển nhanh, ổn định. Đặc biệt khi Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách đổi mới, khuyến khích và tạo điều kiện cho các cá nhân và tổ chức nước ngoài đầu tư và làm việc tại Việt Nam. Tốc độ phát triển bình quân số xe ô tô hàng năm khá lớn. Có thể nói đây là một thị trường đầy tiềm năng đối với các công ty bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam.

Thực tế đã cho thấy, số lượng xe tham gia bảo hiểm vật chất xe cơ giới ở Việt Nam tăng dần qua các năm trong giai đoạn 2004-2008. Nếu như năm 2004 mới chỉ có 350.057 xe ô tô tham gia bảo hiểm vật chất thì năm 2008 con số này là 703.711 xe (tăng 101%). Doanh thu phí từ 1.017.258 trđ tăng lên 2.217.034 trđ ( tăng 1.199.776 trđ). Các cty baỏ hiểm phi nhân thọ đã ngày càng chiếm lòng tin khách hàng trong việc thực hiện nghiệp vụ và số lượng khách hàng tìm đến với các công ty ngày càng nhiều. Mặc dù trong quá trình triển khai nghiệp vu bảo hiểm vật chất xe cơ giới đã gặp rất nhiều khó khăn và còn nhiều tồn tại. Tuy nhiên, với sự phấn đấu không mệt mỏi, doanh thu của nghiệp vụ này đã giữ vị trí quan trọng trong tổng doanh thu của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ.

Trong số các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia thị trường thì Bảo Việt, Bảo Minh, Pjico, PVI vẫn là những doanh nghiệp mạnh, chiếm thị phần lớn trong các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ nói chung và bảo hiểm vật chất xe cơ giới nói riêng.

Từ những phân tích trên đây ta thấy về công tác khai thác bảo hiểm tại thị trường bảo hiểm Việt Nam của các công ty bảo hiểm đã từng bước khẳng định được vị trí và chỗ đứng của mình, đặc biệt trong nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới. Điều đó được thể hiện rất rõ qua số lượng đầu xe tham gia bảo hiểm và  doanh thu phí của nghiệp vụ tăng khá đều đặn, tỷ lệ tái tục lớn. Tuy nhiên, so với tổng số xe lưu hành thì số lượng xe tham gia bảo hiểm vật chất xe cơ giới còn nhỏ.

Một vấn đề nữa với các doanh nghiệp bảo hiểm đó là hạ phí trong khai thác, bất chấp xác suất rủi ro. Bảo hiểm xe cơ giới là nghiệp vụ bảo hiểm có doanh thu cao nhất đạt 2.217 tỉ đồng, tăng 24,8% so với năm 2007. Dẫn đầu doanh thu là Bảo hiểm Bảo Việt 722 tỉ đồng, Bảo Minh 404 tỉ đồng tiếp đến là PJICO 393 tỉ đồng. Tổng số tiền bồi thường là 1.285 tỉ đồng, chiếm 57% doanh thu. Các doanh nghiệp bảo hiểm có tỉ lệ bồi thường cao trong nghiệp vụ này là Bảo Long, QBE, Bảo Minh. Nếu kể cả phần dự phòng phí chưa được hưởng 50%, dao động lớn và chi phí hoa hồng đại lý thì tỉ lệ bồi thường sẽ lớn hơn gấp đôi. Cuộc cạnh tranh bằng hạ phí bảo hiểm từ gay gắt dẫn đến báo động trong khi tổn thất toàn thị trường lên tới 57% doanh thu phí, chi phí sửa chữa thay thế phụ tùng đã tăng trên 30%.

3. Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất:

Theo số liệu thống kê, hàng năm số vụ tai nạn giao thông ở nước ta liên tục tăng lên. Năm 2004 là 29135 vụ, đến năm 2007 là  31.273 vụ, năm 2008 là 32.277 vụ. Tai nạn giao thông đã gây thiệt hại rất lớn cho xã hội về người cũng như về tài sản. Nó không những tác động đến đời sống những người không may gặp rủi ro mà còn ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các công ty bảo hiểm. Một trong những tổ chức đóng góp tích cực nhất để hạn chế thiệt hại và tai nạn giao thông xảy ra đó chính là các công ty bảo hiểm. Với sự ra đời của các công ty bảo hiểm cùng với các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất  đã có vai trò to lớn và ngày càng được chú trọng.

Vừa qua, Bộ Tài chính cũng đã ban hành thông tư hướng dẫn việc quản lý, sử dụng, thanh toán và quyết toán Quỹ bảo hiểm xe cơ giới. Bộ Tài chính cũng quy định mức chi của Quỹ BHXCG. Cụ thể, quỹ này sẽ chi đề phòng hạn chế tổn thất, tai nạn giao thông đường bộ không vượt quá 35% tổng số tiền đóng vào quỹ hằng năm; chi tuyên truyền, giáo dục về an toàn giao thông đường bộ, chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới không vượt quá 10%; chi hỗ trợ nhân đạo không vượt quá 15% tổng số tiền đóng vào quỹ hằng năm.

*********Kết quả công tác giám định – bồi thường bảo hiểm vật chất xe cơ giới

*        Công tác giám định

Việc xác định được nguyên  nhân của vụ tai nạn có thuộc phạm vi bảo hiểm hay không và mức độ tổn thất là bao nhiêu là công việc hết sức khó khăn, đòi hỏi cán bộ giám định phải có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thì mới đáp ứng được nhu cầu công  việc. Bên cạnh đó nó còn góp phần ngăn chặn được hành vi trục lợi bảo hiểm, đây là hành vi rất phổ biến trong bảo hiểm xe cơ giới nói chung và bảo hiểm vật chất xe ô tô nói riêng.

Nhìn chung, trong thời gian qua công tác giám định đã đạt được một số thành tựu:

+       Số lượng và chất lượng của giám định viên ngày càng tăng lên, đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm thực tế, có trình độ chuyên môn vững vàng, có tinh thần trách nhiệm cao.

+       Có ngày càng nhiều các vụ tai nạn được giám định trực tiếp.

+       Nhiều trường hợp giám định viên so tiến hành giám định và điều tra hiện trường tốt đã phát hiện ra nhiều vụ khách hàng gian lận bảo hiểm, tránh thiệt hại cho công ty hàng trăm triệu đồng.

*        Công tác bồi thường.

Bồi thường là công việc dịch vụ sau bán hàng, nó quyết định đến chất lượng dịch vụ và có tác động lớn đến uy tín của công ty. Chính vì vậy mà các công ty bảo hiểm đã coi việc giải quyết bồi thường cho khách hàng theo phương châm “ Bồi thường nhanh chóng, kịp thời, chính xác, hợp lý, hợp tình” là một công cụ cạnh tranh, là một biện pháp tuyên truyền hữu hiệu nhất về ý thức phục vụ của công ty

–         Thứ nhất: số vụ tai nạn phát sinh ngày càng tăng. Năm 2004 là 192.533 vụ, năm 2006 giảm 47.003 vụ so với năm 2005 măc dù năm 2006 giảm nhưng các năm tiếp theo số vụ tai nạn phát sinh trong năm vẫn cao.

–          Thứ hai: số vụ tai nạn đã được giải quyết bồi thường ngày càng tăng và tỷ lệ hồ sơ tồn đọng nhìn chung có xu hướng giảm.  Năm 2005 là 2,39%,  năm 2006 là 2,31% và năm 2007 là 2,28 %.

–         Thứ ba : Tổng số tiền bồi thường qua các năm có xu hướng tăng lên tương ứng với số vụ tai nạn tăng qua các năm. Năm 2004 là 498.270 triệu, năm 2005 là 597.925 triệu đồng năm 2006 là 726.882 triệu đồng, năm  2007  là 857.549 triệu đồng đến năm 2008 số vụ đã tăng lên là 1.284.969 triệu đồng.

Nhìn một cách tổng thể, trong điều kiện thị trường diễn ra sự cạnh trạnh khốc liệt, nhận thức được tầm quan trọng của công tác giám định bồi thường nên ngay từ đầu năm các công ty đã chú trọng nâng cao chất lượng của công tác bồi thường để hỗ trợ cho công tác khai thác và đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Việc tổ chức xét duyệt và trả tiền bồi thường tại các phòng đã được củng cố và cải tiến. Các phòng đã tổ chức thông báo lịch trả tiền bồi thường theo khu vực để việc trả tiền bồi thường được thuận tiện. Rất nhiều hồ sơ đã được giải quyết trong thời gian ngắn để hạn chế đi lại, giảm phiền hà cho khách hàng.

Tuy vậy công tác giám định – bồi thường vẫn bộc lộ những tồn tại lớn cần có các giải pháp toàn diện và đồng bộ trong thời gian tới:

–         Mạng lưới các chi nhánh rộng nhưng sự phối hợp giữa các chi nhánh trong công tác giám định chưa thực sự hiệu quả và kịp thời.

–         Chất lượng công tác thanh tra – kiểm tra về công tác giám định – bồi thường đối với các đơn vị còn yếu.

–         Lực lượng cán bộ giám định – bồi thường còn mỏng và nhìn chung còn chưa đáp ứng yêu cầu về tính chuyên nghiệp.

–         Hệ thống quy trình hướng dẫn giám định – bồi thường đã có nhưng chưa hoàn thiện, và đặc biệt chưa được tuân thủ một cánh đầy đủ trong thực tế.

–         Công tác bồi thương tái bảo hiểm, đòi người thứ ba chưa được đưa vào quy trình chuẩn và chưa có quy chế phối hợp giữa các bộ phận chức năng nên hiệu quả thực hiện còn nhiều hạn chế bất cập.

–         Cơ chế giao khoán 100% theo doanh số đã phát huy tác dụng về tăng trưởng doanh thu nhưng có mặt trái là không hạn chế được tình trạng khai thác ẩu, không đánh giá được mức độ rủi ro bảo hiểm trước khi cấp đơn.

–         Mặc dù tỷ lệ bồi thường cao nhưng chất lượng giải quyết bồi thường chưa tương xứng.

–         Trình độ cán bộ làm công tác giám định – bồi thường tại các đơn vị chưa đồng đều, chưa được đầu tư đào tạo và quan tâm thích đáng.

Tóm lại, công tác giám định – bồi thường là vấn đề bức xúc nhất của các công ty trong giai đoạn hiện nay và muốn nâng cao hiệu quả kinh doanh thì bắt buộc phải nâng cao hiệu quả quản trị công tác giám định bồi thường.

5. Công tác phòng chống trục lợi bảo hiểm:

Các hình thức trục lợi bảo hiểm vật chất xe cơ giới:

–         Lập hồ sơ khiếu nại nhiều lần. Hình thức này được thể hiện khi chủ xe tham gia bảo hiểm cho chiếc xe ở nhiều công ty bảo hiểm khác nhau nhưng không thông báo để nhận được nhiều lần số tiền bồi thường.

–         Thay đổi tình tiết tai nạn hoặc tạo hiện trường giả như: sửa chữa hiệu lực bằng lái, giấy phép lưu hành; thay đổi biển số xe của xe đã mua bảo hiểm không bị tai nạn cho xe chưa mua bảo hiểm nhưng bị tai nạn; di chuyển hiện trường xảy ra vụ tai nạn đến nơi khác… hình thức này được thực hiện với sự tiếp tay của cơ quan chức năng.

–         Cố ý gây tai nạn: đốt xe… để hủy bỏ toàn bộ xe nhằm được bồi thường tổn thất toàn bộ hoặc khi tai nạn xảy ra đã phá hủy thêm một số bộ phận khác của xe để được thay thế mới.

–         Khai tăng tổn thất thực tế mà xe gặp phải nhằm nhận được số tiền bồi thường lớn hơn thiệt hại; được thực hiện chủ yếu dưới các hình thức: đưa báo giá sửa chữa cao hơn so với thực tế, sửa chữa thay thế cả những bộ phận không bị hỏng do tai nạn, không thiệt hại nhưng cũng kê khai vào hợp đồng sửa chữa…

Những nguyên nhân dẫn đến hành vi trục lợi:

–         Trước tiên, phải kể đến nguyên nhân từ phía pháp luật: hệ thống pháp luật chưa chặt chẽ, còn nhiều kẽ hở, chưa có những quy định nào về xử phạt đối với những hành vi gian lận bảo hiểm.

–         Thứ hai, những năm gần đây, thị trường bảo hểm đã thực sự sôi động, tính chất cạnh tranh mang tính ý nghĩa sống còn. Vì vậy, các công ty bảo hiểm đã chú trọng nhiều đến khâu khai thác mà lơ là các khâu khác, khiến cho khách hàng có kẽ hở để trục lợi.

–         Thứ  ba, do tính chất hoạt động của xe cơ giới trên những địa bàn rất rộng nên trong nhiều trường hợp khi tai nạn xảy ra ở những địa bàn hẻo lánh, xa xôi, giám định viên không thể trực tiếp đến giám định được. Chính điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tao hiện trường giả, cung cấp thông tin sai sự thật.

–         Thứ tư là do trình độ, đạo đức nghề nghiệp của nhân viên bảo hiểm.

–         Thứ năm, các trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công tác giám định còn hạn chế, lạc hậu.

Việc tìm ra được những nguyên nhân dẫn đến trục lợi bảo hiểm là rất quan trọng. Nó giúp cho công ty tìm ra được hướng đi đúng đắn để giải quyết vấn đề này. Trong những năm qua, các công ty bảo hiểm đã thực hiện công tác này và ngày càng nâng cao uy tín của mình trên thị trường, chiếm lòng tin vững chắc trong tâm trí khách hàng.