Thực trạng chi tiêu công ở VN hiện nay

1.Chi đầu tư phát triển
1.1 Nội dung
Chi đầu tư phát triển của nhà nước luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi đầu tư
phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Chi đầu tư phát triển của nhà nước bao gồm: đầu tư xây dựng cơ bản, hỗ trợ phát triển kinh tế, đầu tư các chương trình không mang tính chất đầu tư xây dựng cơ bản(chi cấp vốn ban đầu, vốn bổ sung pháp định hoặc vốn điều lệ cho các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá, chi trợ cấp, trợ giá cho các doanh nghiệp khi thực hiện nhiệm vụ công ích). Trong đó, đại bộ phận là đầu tư xây dựng cơ bản (gần 90%)
Đầu tư của nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản giữ vị trí quan trọng trong đầu tư xây dựng cơ bản toàn xã hội nói riêng, và trong phát triển kinh tế xã hội nói chung. Tầm quan trọng đó không chỉ vì nguồn đầu tư của nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư xây dựng cơ bản, mà cũng vỡ nguồn đầu tư này đã hình thành nên những công trình làm chuyển dịch cơ cấu, thúc đẩy phát triển kinh tế và cải thiện đời sống dân cư một cách căn bản. Loại công trình này không thu hút được vốn đầu tư của các chủ thể kinh tế vì nhiều lý do, hoặc là do vốn đầu tư quá lớn so với khả năng đầu tư của các nhà đầu tư tư nhân, hoặc do thời hạn thu hồi vốn quá dài, thậm chí không thể thu hồi vốn một cách trực tiếp, hoặc vì lý do chính trị – an ninh – quốc phòng mà các nhà đầu tư tư nhân không được phép đầu tư. Do vậy, trong lĩnh vực này đẩu tư của nhà nước được xem là nguồn vốn đầu tư duy nhất.

 

Năm 2010, chi NSNN đạt 669.630 tỷ đồng, tăng 15% (87.430 tỷ đồng) so với dự toán, tăng 27.430 tỷ đồng so với báo cáo Quốc hội.
Trong đó: Chi đầu tư phát triển 170.970 tỷ đồng, tăng 36, % (45.470 tỷ đồng) so với dự toán, tăng 20.970 tỷ đồng so với báo cáo Quốc hội. Riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản là 165.013 tỷ đồng. Vốn trái phiếu Chính phủ đầu tư cho các công trình giao thông, thuỷ lợi, giáo dục và y tế đạt 55.235 tỷ đồng, bằng 98, % kế hoạch. Kết quả, hiều dự án quan trọng từ nguồn vốn đầu tư của NN năm 2010 đã hoàn thành và đưa và sử dụng, phát huy hiệu quả, tạo thêm năng lực mới cho nền kinh tế.
Năm 2012, Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/11/2012 ướctính đạt 747,  nghìn tỷ đồng, bằng 82, % dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 144,  nghìn tỷ đồng, bằng 80, % (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 138,  nghìn tỷ đồng, bằng 79, %); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (bao gồm cả chi thực hiện cải cách tiền lương) ước tính đạt 517,  nghìn tỷ đồng, bằng 86, %; chi trả nợ và viện trợ 85,  nghìn tỷ đồng, bằng 85, %.
Quy mô chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước được cải thiện đáng kể qua các năm góp phần tăng tính chủ động và ổn định của ngân sách nhà nước tạo đòn bẩy để thúc đẩu tăng trưởng kinh tế bền vững và xử lý những bất ổn khi nền kinh tế gặp phỉa các cú sốc.
Một số dự án chi đầu tư phát triển của Việt Nam trong những năm qua
1.1.1 Chi NSNN cho xây dựng cơ bản

NSNN chi cho xây dựng cơ bản luôn chiếm tỷ trọng lớn trong chi đầu tư phát triển. Xu hướng chi NSNN cho xây dựng cơ bản hiện nay đang có xu hướng giảm so với những năm 2008- 2010.Điều này được lý giải, trong những năm 2008-2010, nền kinh tế nước ta đang phải chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới.Chính vì vậy mà việc chi cho đầu tư xây dựng cơ bản được chú trọng nhằm phục hồi nền kinh tế, tránh sự ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng.Sau những sự nổ lực của Chính phủ và nhân dân, nền kinh tế đã có những khởi sắc nhất định. Điều này khiến cho Chính phủ chuyển hướng chi tiêu, cụ thể là : giảm chi cho XDCB và tăng các khoản chi thường xuyên.

1.1.2 Chi NSNN cho xây dựng hệ thống giao thông

  • NSNN có vai trò rất lớn đối với việc xây dựng hệ thống giao thông hiện nay. Nhờ có sự chỉ đạo của Chính phủ mà hệ thống giao thông hiện nay đã được cải thiện: các đường quốc lộ liện tỉnh được xây dựng và đi vào hoạt động hiệu quả như dự án Cầu Giẽ – Ninh Bình – đường cao tốc đầu tiên của khu vực phía Bắc sau nhiều năm triển khai với không ít khó khăn về vốn cũng được đưa vào khai thác; nhiều tuyến cao tốc lớn sắp được hoàn thành và đưa vào khai thác như: Nội Bài – Lào Cai, Hà Nội – Thái Nguyên, TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây, tăng cường qui hoạch các trục đường chính ở các thành phố lớn nhằm giảm sự ùn tắt giao thông trong các giờ cao điểm…Những tuyến đường này có ý nghĩa kinh tế rất lớn, đó là cầu nối giúp việc giao thương giữa các tỉnh thuận tiện hơn, giúp cho các doanh nghiệp có xu hướng mở rộng địa bàn đầu tư, sản xuất. Đồng thời cũng không thể không nhắc đến ý nghĩa xã hội của nó: việc đi lại, tham gia giao thông được thuận tiện hơn rất nhiều, vấn đề quản lý giao thông của nhà nước cũng dễ dàng hơn.
  • Ngoài ra, NSNN còn chú trọng đến công tác xây dựng hệ thống giao thông liên xã, liên huyện ở các cùng nông thôn. Thực hiện chính sách bê tông hóa đường xá ở nông thôn giúp cho việc đi lại, sản xuất, buôn bán của bà con thuận tiện hơn rất nhiều. Cho đến ngày 01/7/2011 cả nước đã có 8940 xã, chiếm 98, % tổng số xã cả nước đã có đường ô tô đến trung tâm xã (tăng 2, % so với năm 2006), trong đó đi lại được 4 mùa là 8803 xã, chiếm 97, % (tăng 3, % so với năm 2006); xã có đường ô tô đến trung tâm xã đã được nhựa hóa, bê tông hóa là 7917 xã chiếm 87, % (tăng 17, % so với năm 2006). Một điều đáng chú ý là không chỉ đường đến trung tâm huyện, xã ở các vùng đồng bằng được chú trọng mà đường đến các thôn, bản miền núi cũng được các cấp chính quyền hết sức quan tâm đầu tư với số liệu rất ấn tượng đó là có tới 89, % số thôn, bản có đường ô tô đến được. Điều đó góp phần thay đổi cuộc sống của người dân nơi vùng cao vốn chịu nhiều thiệt thòi về điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng cũng như văn hóa xã hội.

1.1.3 Chi NSNN cho xây dựng cơ sở hạ tầng giáo dục, đào tạo

  • Hiện nay, NSNN chi cho xây dựng cơ sở hạ tầng giáo dục, đào tạo chủ yếu được tập trung cho cải thiện lại hệ thống trường học không còn khả năng sử dụng và xây dựng hệ thống trường học mới đặc biệt là các trường bán trú ở khu vực miền núi, các vùng đặc biệt khó khăn. Cụ thể: Xây dựng mới, sửa chữa phòng học; phòng bộ môn; nhà hiệu bộ; nhà đa năng; nhà công vụ giáo viên; nhà ở bán trú học sinh; công trình phụ trợ khác; chi mua sắm thiết bị.

1.1.4 Trong việc ngăn chặn và bù đắp tổn thất do thiên tai gây ra:

  • Trận lụt lịch sử diễn ra vào cuối năm 2008 gây thiệt hại nặng nề cho cả nước cả về người và tài sản. Riêng Hà Nội, tổng thiệt hại về tài sản ước khoảng 3000 tỉ, đã có 20 người bị thiệt mạng và hàng trăm người bị thương. Tuy nhiên, tổng sản phẩm nội địa (GDP) của HN trong sáu tháng đầu năm 2009 ước tăng 4%, trong đó giá trị tăng thêm công nghiệp mở rộng tăng 4 %, dịch vụ tăng 5%, nông-lâm-thủy sản giảm 5%. Không chỉ vậy, theo số liệu của Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương, mưa to trên diện rộng tại các tỉnh miền Trung năm 2010 đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Đã có tới 76 người thiệt mạng.Tổng thiệt hại kinh tế ước tính trên 2.500 tỷ đồng. Nhưng ngay sau đó, người dân đã ổn định cho cuộc sống, các hoạt động khắc phục hậu quả xấu do lụt mang lại diễn ra nhanh, kinh tế miền Trung dần hồi phục….. Vậy nguyên nhân là ở đâu?
  • Tất cả, đều nhờ một phần không nhỏ của các chính sách chi ngân sách Nhà nước, mà cụ thể ở đây là chi dự trữ Nhà nước. Năm 2008, Thủ tướng đã quyết định trích 310 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương giúp các địa phương khắc phục hậu quả đợt mưa lũ đầu tháng 11. 18 địa phương được hỗ trợ về dân sinh, mua giống khôi phục sản xuất và cơ sở hạ tầng thiết yếu như trường học, trạm y tế, thủy lợi, giao thông nông thôn, vệ sinh môi trườngvà phòng, chống dịch bệnh. Vào năm 2010, cũng trong việc giúp đỡ các địa phương và nhân dân khẩn trương khắc phục hậu quả mưa lũ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 1917/QĐ-TTg về việc hỗ trợ kinh phí, gạo cho một số tỉnh miền Trung. Theo đó, trích 660 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương năm 2010; xuất cấp không thu tiền 11.000 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia để khắc phục hậu quả mưa lũ: Cứu đói cho dân, hỗ trợ dân sinh, khôi phục cơ sở hạ tầng thiết yếu (trường học, trạm y tế, bệnh viện, các công trình giao thông, thủy lợi)…
  • Xét trên khía cạnh khác, về thực tế, nhiều hiện trạng đáng được quan tâm.Đó là việc nhiều địa phương đã kê khống, nâng khống thiệt hại vật chất để xin hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, các tổ chức từ thiện rồi bằng các thủ đoạn như lập khống giấy tờ, hóa đơn để chiếm đoạt tiền, tài sản. Hiện trạng trên là rất phổ biến, gây thất thoát một khoản không nhỏ ngân sách nhà nước, tuy nhiên, đến nay, nó vẫn chưa được giải quyết triệt để.Lúc này đây, hồi chuông báo động trong công tác quản lí chi ngân sách đã thực sự vang lên

**** Tích cực

Nguồn vốn đầu tư phát triển phong phú, dồi dào, tin cậy: các nguồn như: ngân sách nhà nước (trên 100 nghìn tỷ đồng), trái phiếu chính phủ(trên 1600 tỷ đồng), nguồn vốn ODA(trên 3 triệu USD), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (13 tỷ USD)… (theo số liệu báo cáo năm 2007).Theo nhận xét chung của các doanh nghiệp, về mặt kiến thức chuyên môn sinh viên hiện nay được trang bị khá tốt, tốt hơn trước nhiều.

**** Hạn chế

a, Thưc trạng chuẩn bị nguồn vốn đầu tư:

– Việc giải ngân vốn NSNH và vốn trái phiếu chính phủ còn chậm trễ, công tác chỉ đạo, điều hành và quản lý thực hiện dự án của các Bộ, ngành, địa phương còn nhiều hạn chế. Công tác khảo sát ban đầu thiếu chính xác, không xác định đầy đủ các yếu tố liên quan. Các quy định hướng dẫn tính toán điều chỉnh chi phí, định mức đầu tư thường chậm được xử lý của các cấp thẩm quyền và không đồng bộ với các biến động thị trường. Thủ tục phê duyệt tổng dự toán, kế hoạch đấu thầu, kết quả trúng thầu…của một số Bộ, ngành và địa phương còn rất rườm rà và phức tạp.Năng lực tư vấn và năng lực nhà thầu thi công cũng còn yếu kém. Mặc dù trong thời gian gần đây, năng lực của các đơn vị tư vấn, nhất là tư vấn lập dự án và tư vấn thiết kế tuy có được cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu.
– Tình trạng dự án phải điều chỉnh nhiều lần vẫn chưa được khắc phục. Sự yếu kém về tài chính và năng lực thi công của nhiều nhà thầu cũng là nguyên nhân chậm tiến độ đầu tư xây dựng công trình.
– Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng còn nhiều bất cập. Một số văn bản hướng dẫn thực hiện các Luật, Nghị định của Chính phủ về đầu tư, xây dựng, đấu thầu thanh toán vốn chưa được thống nhất và thiếu cụ thể, gây khó khăn cho việc thực hiện ở các đơn vị cơ sở. Việc thông báo giá của các địa phương thường không đầy đủ, và không cập nhật thường xuyên, nên khi lập dự toán các chủ đầu tư phải triển khai thêm nhiệm vụ thoả thuận với địa phương để bổ sung vào thông báo giả, gây lãng phí và chậm trễ trong công tác đấu thầu. Việc tính trượt giá chưa được quy định thống nhất, cũng là nguyên nhân kéo dài thời gian lập, thẩm định và phê duyệt dự án..
- Chuẩn bị nguồn lao động:
Theo các nhà tuyển dụng, những khuyết điểm của nhiều sinh viên khiến cho doanh nghiệp ngại khi tuyển dụng. Đó là tâm lý hay thay đổi công việc theo ý thích, không có tầm nhìn dài hạn, chỉ nghĩ đến việc làm để kiếm sống hôm nay, dễ nản lòng khi kết quả không như ý muốn và chưa biết cách tự thể hiện. Ngoài các điểm yếu có liên quan đến tâm lý nêu trên, phần lớn sinh viên ra trường còn yếu kém về kỹ năng làm việc và kinh nghiệm thực tế mà một trong các nguyên nhân chính là do chương trình đào tạo ở trường thường nặng về lý thuyết, ít thực hành; không quen làm việc theo nhóm hoặc chưa biết cách diễn đạt, trình bày ý tưởng của mình trước tập thể…
Vấn đề đào tạo nghề: Tính đến nay, nguồn nhân lực được đào tạo khoảng 8 triệu người chiếm 21%. Đó là một tỷ lệ còn rất thấp so với yêu cầu. Cũng có nghĩa là, số người chưa qua đào tạo, làm lao động thủ công cũng quỏ lớn, xấp xỉ 80%. Số người chưa qua đào tạo tập trung ở nông thôn nhiều (gần 88% nguồn nhân lực ở nông thôn)..
- Chuẩn bị kế hoạch vốn đầu tư cho thời kỳ đầu tư kéo dài
Các công trình đầu tư phát triển có thời gian đầu tư rất dài, nhiều công trình có vốn nằm khê đọng trong quá trình thực hiện đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lưc tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn. Và quan trọng là chuẩn bị tốt một kế hoạch vốn đầu tư, phải quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư như:
1. Công trình xây dựng trước khi triển khai phải được lập tiến độ thi công xây dựng. Tiến độ thi công xây dựng công trình phải phù hợp với tổng tiến độ của dự án đã được phê duyệt.
2. Đối với công trình xây dựng có quy mô lớn và thời gian thi công kéo dài thì tiến độ xây dựng công trình phải được lập cho từng giai đoạn, tháng, quý, năm.
3. Nhà thầu thi công xây dựng công trình có nghĩa vụ lập tiến độ thi công xây dựng chi tiết, bố trí xen kẽ kết hợp các công việc cần thực hiện nhưng phải bảo đảm phù hợp với tổng tiến độ của dự án.
4. Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát và các bên có liên quan có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình và điều chỉnh tiến độ trong trường hợp tiến độ thi công xây dựng ở một số giai đoạn bị kéo dài nhưng không được làm ảnh hưởng đến tổng tiến độ của dự án.
Chú ý: Trường hợp xét thấy tổng tiến độ của dự án bị kéo dài thì chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu tư để quyết định việc điều chỉnh tổng tiến độ của dự án.
5. Khuyến khích việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng trên cơ sở đảm bảo chất lượng công trình.
Chú ý: Trường hợp đẩy nhanh tiến độ xây dựng đem lại hiệu quả cao hơn cho dự án thì nhà thầu xây dựng được xét thưởng theo hợp đồng. Trường hợp kéo dài tiến độ xây dựng gây thiệt hại thì bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại và bị phạt vi phạm hợp đồng.
Và các nhà đầu tư cần có chiến lược đầu tư dài hạn về nguồn nhân lực, về đối tác chiến lược, về công nghệ và phải có nguồn tài chính dài hạn có tính ổn định.

b.Tình hình quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển vào thực hiện dự án đầu tư ở VN

- Hoàn tất thủ tục triển khai đầu tư:

  • Thực tế quá trình thực hiện DA DTPT ở nước ta thời gian qua diễn ra đã có rất nhiều sai sót, ở cả phía chủ quan và khách quan đã gây ra hậu quả lớn ảnh hưởng tới chất lượng của công trình.
  • Thứ nhất, các công trình xây dựng xin giao đất, cấp đất để được đúng tiến độ thời gian đề ra là rất khó khăn. Nguyên nhân có thể do các bên. Hiện nay trong môi trường đầu tư ở Việt Nam các nhà đầu tư đang phải đối mặt với một “khái niệm” rất mới, đó là “đất sạch”. “Đất sạch” là đất đã bồi hoàn, giải tỏa và tiến hành xây dựng hạ tầng hoàn chỉnh, hiện nay đó là vấn đề nóng phải giải quyết. Các nhà đầu tư thực hiện nghiêm túc chức năng nhiệm vụ của mình trong đầu tư nhưng lại không nhận được sự thiện chí giúp đỡ từ các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương. Nguyên nhân khác, các nhà đầu tư VN còn thiếu kỹ năng và tính chuyên nghiệp trong quá trình chuẩn bị dự án đầu tư. Đối với các DA DT vốn Ngân sách nhà nước rót về cho các tỉnh còn khó khăn thì điều này càng được thể hiện rõ. Chủ đầu tư là các UBND Tỉnh, xã có thể trong suốt nhiệm kỳ thời gian hoạt động của họ chưa từng nhận được một dự án nào hoặc rơi rớt, sự thiếu chuyên nghiệp trong các khâu là điều không thể tránh khỏi. Thực tế cho thấy nhiều dự án được cấp đất nhưng vẫn bỏ không do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như chậm giải phóng mặt bằng, thiếu vốn, cũng đã thất thoát lãng phí hàng chục tỷ đồng của NN trong khi đó giá thuê đất ở VN được đánh giá là cao trong khu vực và trên thế giới.Chính sự thiếu chuyên nghiệp đó làm kéo dài thời gian chuẩn bị gây ra sự kém hiệu quả trong thực hiện dự án đầu tư. Nhưng sự thiếu hiệu quả trong khâu chuẩn bị thực hiện dự án không chỉ xuất phát từ nguyên nhân chủ quan.
  • Thứ hai, khó khăn trong khâu xin giấy phép XD và các giấy tờ liên quan. Hiện nay các quy định đầu tư xây dựng của Nhà nước nhiều nhưng vẫncòn sơ hở, không phải là một hệ thống ban hành đồng bộ, thường xuyên bị thay đổi, chủ quan duy ý chí và tạo kẽ hở cho người thi hành vi phạm định chế vì lợi ích cá nhân. NN đã ban hành bộ luật Xây dựng nhưng cũng chưa quy định rõ nguyên tắc đầu tư dẫn đến tình trạng phổ biến là tất cả các khâu tham gia trong một công trình đều do một cơ quan quản lý và theo dõi. Việc tổ chức thực hiện đều theo một chu trình khép kín từ khâu thiết kế thi công, đến giám sát đấu thầu, nghiệm thu đều do một bộ một cơ quan quản lý, trọng tài là người cùng đơn vị, hiện tượng “vừa đá bóng vừa thổi còi” thế làm sao đảm bảo khách quan, trung thực được.Cơ chế quản lý phân công công việc chồng chéo, không quy rõ trách nhiệm, thủ tục phiền hà đã tạo nên môi trường cho sự phát sinh tình trạng cục bộ, bản vị, khép kín, hạch sách NĐT.
  • Thứ ba, công tác đền bù giải phóng mặt bằng là khâu chủ đạo nhưng cũng không tránh khỏi tình trạng không hiệu quả. Cơ chế chính sách của NN còn nhiều bất cập đã gây trở ngại không nhỏ cho quá trình đền bù, giải phóng mặt bằng. Giải phóng mặt bằng là vấn đề khó khăn nhất đối với các dự án, chứ không phải là thiếu vốn, 2 nhân tố đảm bảo cho công tác này có hiệu quả là nâng cao nhận thức của người dân trong việc Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế; tiếp đó là hoạt động của chính quyền địa phương khi thực thi phải đúng luật, nghiêm chỉnh. Nếu làm tốt những việc này thì mới có thể giải quyết được những vấn đề rất nan giải, vướng mắc hiện nay liên quan đến đất đai.
  • Nhưng từ phía NĐT cũng góp phần làm chậm quá trình nảy bởi sự non nớt về kinh nghiệm thực hiện. Công tác đền bù giải phóng mặt bằng rất cần sự phối hợp nhịp nhàng của nhà ĐT và chính quyền, UBND sở tạị. Sự chủ động phối hợp của chính quyền địa phương là chìa khóa mở cánh cửa thúc đẩy tiến độ đền bù giải phóng mặt bằng. Đây cũng là kinh nghiệm quý báu cho các nhà đầu tư khi bắt tay chuẩn bị thực hiện dự án.

 

 

- Thiết kế lập dự toán thi công

  • Hiện nay công tác tuyển chọn nhà thầu tư vấn và khảo sát đưa ra dự toán của công trình là 2 bước thực hiện còn nhiều bất cập.
  • Thứ nhất, công tác tuyển chọn nhà thầu tư vấn hiệu quả còn nhiều khó khăn. Đối với các nhà thầu trong nước có một số nhà thầu có chất lượng nhưng đa số còn rất yếu trong kinh nghiệm hoạt động. Do đó sự giúp đỡ của nhà thầu tư vấn đến chủ đầu tư còn thấp. Công tác quan trọng của nhà thầu tư vấn là khảo sát thiết kế, đưa ra tổng mức dự toán hiện nay còn thực hiện cũng kém hiệu quả. Điều đó là rất nguy hiểm cho công tác đấu thầu sau này. Tình trạng chú yếu vẫn diễn ra thường xuyên hiện nay tại các cuộc đấu thầu tại VN là các nhà thầu đưa giá thấp, thắng thầu bằng mọi giá rồi trong khi thi công công trình sẽ đưa ra đủ lý do để tăng vốn cho dự án. Điều đó diễn ra tại hầu hết các tỉnh thành, ngành làm hiệu quả đầu tư xuống rất thấp. Để khắc phục điều đó, việc đưa ra mức tổng dự toán công trình chính xác là rất quan trọng.

- Thi công xây lắp công trình

  • - Trình độ chuyên môn và năng lực các nhà thầu xây lắp của Việt Nam ngày càng được cải thiện, tiến độ thi công còn chậm
  • - Tồn tại trong công tác đấu thầu.
  • - Nguyên vật liệu sử dụng hiệu quả chưa cao thể hiện trong thất thúat, lóng phớ,
  • - Đội ngũ giám sát và thực hiện thi công công trình còn chưa đáp ứng nhu cầu trong kỹ năng quản lý và trình độ chuyên môn.
  • - Vai trò của chủ đầu tư còn mờ nhạt.
  • - Sự quản lý của các cơ quan chức năng đối các công trình còn buông lỏng.
  • - Lãng phí thất thoát trong đầu tư, nợ đọng trong đầu tư xây dựng cơ bản.

- Vận hành khai thác kết quả đầu tư

  • Đầu tư phát triển là một hoạt đông lâu dài mà kết quả của nó là những công trình có tuổi đời kinh tế lâu dài. Vận hành các kết quả đầu tư của giai đoạn thực hiện đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu của dự án. Như phần lý luận dã trình bày những kết quả này và mục tiêu của dự án sẽ phụ thuộc trực tiếp vào quá trình tổ chức quản lý hoạt động các kết quả đầu tư.
  • Thực tế có rất nhiều công trình xây dựng cơ bản, từ một vài tỷ đồng đến hàng nghìn tỷ đồng, sau khi hoàn thiện thi công thì không thể đưa vào khai thác ngay chỉ vì thiếu đồng bộ của quy trình đầu tư. Đó là một thực tế yếu kém của về năng lực quản lý ở Việt Nam. Ta có thể đưa ra một vài ví dụ về những trường hợp cụ thể:
  • + Dự án cầu Thanh Trì hiện nay được ghi nhận là dự án cầu lớn nhất Đông Dương, với chiều dài 3084m, rộng 33, m và 6 làn xe chạy (trong đó có 4 làn xe cao tốc với tốc độ cho phép 100km/h). Tổng mức dự toán đầu tư ban đầu 410 triệu USD được khởi công vào năm 2002, theo kế hoạch đến tháng 11 năm 2006 là hoàn tất và thông xe. Nhưng phải đến tận 02/02/2007 bộ Giao Thông vận tải mới chính thức làm lễ “thông xe phần chính của cầu”. Còn các phần khác vẫn nằm trong tình trạng dở dang do còn vướng nhiều nút cỏ trai chưa được giải tỏa không bàn giao mặt bằng đúng tiến độ.Theo đánh giá sơ bộ, với kinh phí đầu tư 410 triệu USD xấp xỉ 6600 tỷVNĐ. Mặc dù nguồn vốn vay chính là ODA của Nhật với lãi suất ưu đãi nhưng cái giá phải trả cho nó là không nhỏ. Nếu lấy lãi suất huy động trái phiếu chính phủ 8%, ước tính con số 6600 tỷ VNĐ sẽ cho số tiền lãi phát sinh là 525 tỷ VNĐ mỗi năm hay tương đương 1 tỷ VNĐ mỗi ngày vốn đã giải ngân. Cầu đã xây xong, chưa đưa vào sử dụng có nghĩa là chưa sinh ra một đồng lợi nhuận nào nhưng sau mỗi ngày lại lãng phí mất 1 tỷ VNĐ. Đó là riêng lẻ một công trình trong khi thực tế thỡ cú hàng trăm công trình khác với tổng số vốn đầu tư hàng nghìn tỷ VNĐ khi hoàn thành không được đưa vào sử dụng ngay.Có thể nói cho dù các công trình với quy mô khác nhau, thời gian đắp chiếu dài ngắn khác nhau nhưng tất cả đều có chung một nguyên nhân là: Sự không đồng bộ trong quá trình triển khai dự án, sự ách tắc trong quá trình giải tỏa bàn giao mặt bằng và sự bất cập của quản lý hành chính. Sự lãng phí thể hiện rõ nhất khi hàng loạt công trình xây dựng đưa vào sử dụng không đạt hiệu quả kinh tế xã hội do không khai thác hết công suất, thiếu nguyên liệu mà chủ yếu là do quy hoạch kém, không đồng bộ, không gắn kết với quy hoạch phát triển ngành, vùng.Như thực trạng nhà máy xay xát lúa gạo cầu Nguyễn, nhà máy chế biếnthủy sản đông lạnh Diêm Điền… sau khi đầu tư xong mới thấy chưa tính hết quy hoạch vùng nguyên liệu cung cấp, yếu tố đầu vào, đầu ra không đảm bảo nên nhà máy không hoạt động được.Hàng loạt cảng biển nhà máy đường… với hàng nghìn tỷ đồng hiện nay không phát huy tác dụng, sắp tới là hàng loạt các khu công nghiệp, sân bay, bến cảng mới và nhiều công trình, dự án nhóm B, ở các địa phương đang được dư luận quan tâm nếu chủ đầu tư không cẩn trọng thì cũng dễ dẫn đến thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản.

2. Chi thường xuyên

2.1 Chi cho các đơn vị sự nghiệp

  • Chi cho sự nghiệp kinh tế

Đây là khoản chi tiêu dùng phục vụ sản xuất, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế hoạt động thuận lợi. Xuất phát từ mục đích hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế không phải là hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận, do đó áp dụng chế độ cấp phát như một đơn vị dự toán

Quy mô chi sự nghiệp kinh tế tăng mạnh đã góp phần tích cực trong việc tăng cường các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, bảo vệ thực vật, nghiên cứu và áp dụng nhiều giống mới phục vụ cho nông nghiệp. Ngoài ra, một số chương trình được nghiên cứu triển khai như: đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường đầu ra cho nông sản…Đặc biệt là trong thời gian vừa qua, do tác động từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Chính phủ đã tập trung mọi nỗ lực ngăn chặn, hạn chế suy giảm kinh tế, duy trì sản xuất kinh doanh. Trong đó, giải pháp lớn nhất là về tiền tệ, chính sách miễn, giảm, hoàn các loại thuế. Đặc biệt phải kể tới sự gia tăng mạnh của các khoản chi để nâng cấp cơ sở hạ tầng, phục hồi các công trình đê, kè, giao thông thủy lợi và hầu như năm nào cũng nảy sinh khoản chi khắc phục hậu quả thiên tai.

  • Tuy nhiên do quá trình quản lý và kiểm soát chi không được chặt chẽ nên tình trạng làm thất thoát lãng phí nguồn vốn của Nhà nước hiện vẫn còn tồn tại phổ biến đáng kể là các khoản chi để tu sửa cơ sở hạ tầng trong thời gian vừa qua.

2.2 Chi cho hoạt động an sinh xã hội

  • Cùng với sự tăng quy mô của chi ngân sách Nhà nước thì quy mô cho các khoản chi kể trên cũng có chiều hướng tăng lên đáng kể. Chi an sinh xã hội lại càng trở nên bức thiết trong điều kiện nền kinh tế xã hội chịu tác động sâu sắc từ cuộc khủng hoảng kinh tế. Bên cạnh hỗ trợ cho quỹ bảo hiểm xã hội, chi ASXH trong thời gian qua đã góp phần phát huy chức năng đảm bảo xã hội của Nhà Nước thông qua việc hỗ trợ tài chính một cách trực tiếp cho người lao động bằng các khoản chi cứu tế và chi bảo đảm xã hội… Đặc biệt là quy mô các khoản chi cho dân số và kế hoạch hóa gia đình, chi sự nghiệp bảo vệ môi trường ngày càng tăng…qua đó góp phần ổn định công bằng xã hội. Tuy nhiên, do khả năng nguồn thu của ngân sách còn hạn chế định mức trợ cấp cho các đối tượng chính sách hay các khoản chi cho các trại xã hội, chi giúp đỡ các vùng bị thiên tai…vẫn chưa đáp ứng nhu cầu. Mặt khác do quá trình kiểm soát tài chính đối với ASXH chưa chặt chẽ nên hiện tượng tiêu cực, tham ô gây thất thoát lãng phí, trong khi đó nhiều đối tượng chính sách chưa được hưởng những chính sách hỗ trợ đúng chế độ.

Nhà nước cần có các chính sách để:

-Hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước hết là các thể chế về kinh tế, về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính.

-Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân.

  •  -Các cơ quan trong hệ thống hành chính được xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng; chuyển được một số công việc và dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan nhà nước thực hiện cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận.
  •  -Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gọn nhẹ, hợp lý theo nguyên tắc Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý vĩ mô toàn xã hội bằng pháp luật, chính sách, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện.
  • Trong tổng chi hành chính Nhà nước thì chi quỹ tiền lương chiếm tỷ trọng lớn nhất. Để phù hợp với biến động của cơ chế thị trường, đồng thời đảm bảo chính sách tiền lương, tiền thưởng phải là động lực nâng cao chất lượng dịch vụ công, do đó nhà nước đã và đang thực hiện nhiều chương trình cải cách tiền lương.

2.3 Chi cho an ninh quốc phòng

Tình hình chính trị, xã hội trong nước và quốc tế ảnh hưởng đến chi ngân sách cho an ninh quốc phòng.

2.4 Chi sự nghiệp giáo dục – đào tạo.

Chính sách tài chính mà cụ thể là chi sự nghiệp giáo dục đào tạo của Ngân sách Nhà nướcphải nhằm mục đích thúc đẩy sự nghiệp giáo dục đào tạo phát triển. Trong thời gian qua, thực hiện chủ trương đường lối của Đảng va Nhà nước việc phân bổ và sử dụng ngân sách cho giáo dục đào tạo đã có những chuyển biến tích cực

Nếu từ năm 91- 95, tỉ trọng chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo chỉ chiếm bình quân 9% trên tổng chi NSNN và 15% tổng chi thường xuyên thì từ 2006 đến nay con số đó gia tăng và ổn định ở mức tương đối cao: 13 -14% trong tổng chi NSNN và từ 26 – 27% trong tổng chi thường xuyên.

  • Cùng với sự phát triển về quy mô và sự nghiệp giáo dục – đào tạo trong thời gian qua đã góp phần đem lại một số thành tựu nhất định trong hệ thống giáo dục đào tạo, cụ thể là:
  • Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, đặc biệt tại các trường dạy nghề, khối đại học.
  • Đời sống của giáo viên được quan tâm hơn qua các bước cải cách về chế độ tiền lương; đặc biệt nhiều địa phương đã thực hiện chính sách đãi ngộ cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, sinh viên ngành sư phạm được miễn học phí…
  • Hoàn thành chương trình xóa mù chữ theo đúng mục tiêu Nghị quyết TW2 đề ra đồng thời đang thực hiện triển khai chương trình phổ cập tiểu học trên cả nước, chương trình du học bằng nguồn vốn ngân sách…
  • Trong thời gian qua với chủ trương xã hội hóa giáo dục đã và đang được triển khai mạnh mẽ nhằm mục đích xây dựng cộng đồng trách nhiệm của tất cả tầng lớpnhân dân, mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân tài vật lực trong xã hội để phát triển sự nghiệp giáo dục, góp phần giảm áp lực cho sự nghiệp giáo dục đào tạo, từ đó tạo điều kiện để Nhà nước thực hiện những chương trình trọng điểm của ngành giáo dục.
  • Mặc dù có những chuyển biến tích cực và đóng góp nhất định cho việc phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo trong thời gian qua, tuy nhiên thực trạng quản lý chi sự nghiệp giáo dục đào tạo hiện vẫn tồn tại một số vấn đề cần giái quyết: Quy mô chi sự nghiệp giáo dục – đào tạo vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu, phân bố ngân sách cho giáo dục – đào tạo chưa hợp lý.
  • Hiện nay, định mức phân bổ ngân sách cho giáo dục được căn cứ theo dân số nhằm mục đích tạo sự công bằng về nhịp độ phát triển giữa các vùng, ngoài ra các định mức khác cũng được vận dụng như tỷ lệ học sinh/giáo viên, tỷ lệ chi lương và ngoài lương, có thể nói cách phân bổ ngân sách cho giáo dục theo yêu cầu chỉ tiêu căn cứ trên dân số hiện nay có ưu điểm là đơn giản cho việc tính toán khi thực hiện phân bổ. Tuy nhiên, việc phân bổ như trên hiện đang phát sinh những hạn chế sau:
  • Định mức phân bổ căn cứ theo dân số là một chỉ tiêu mang tính ước lượng khó chính xác vì tình trạng dân di cư giữa các địa phương hiện nay khá phổ biến, thiếu minh bạch trong quá trình phân bổ.
  • Không kích thích được địa phương quản lý số lượng người đi học một cách hiệu quả bởi lẽ trường hợp số lượng trẻ em trong độ tuổi đến trường của địa phương có tăng hay giảm thì cũng không ảnh hưởng đến nguồn tài chính đã được phân bổ.
  •  Hệ thống phân bổ hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc phân bổ nguồn tài chính mà chưa đặt ra yêu cầu phải cung cấp một số lượng hàng hóa dịch vụ công là bao nhiêu để đáp ứng nhu cầu thực tế.Mặc dù trong thời gian qua tiền lương đã có cải cách tuy nhiên chế độ tiền lương vẫn chưa là nguồn sống chủ yếu cho những người hưởng lương từ NSNN nói chung và đội ngũ giáo viên vật chất cho đội ngũ giáo viên.
  • Điểm qua một số thành tựu và hạn chế nổi bật của của thực trạng chi sự nghiệp Giáo dục đào tạo ở nước ta từ năm 2006 đến nay cho thấy việc phát huy thành tựu đạt được đồng thời tìm giải pháp thích hợp để khắc phục những hạn chế là yêu cầu khách quan hiện nay để khoản chi của ngân sách thực sựu là động lực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo của đất nước

2.5 Chi về khoa học – công nghệ.

  • Đây là một trong những khoản chi của ngân sách nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hóa.
  • Nếu trong thời gian từ 1991-1995 mức chi binh quân cho khoa học công nghệ và môi trường chỉ chiếm 1 % tổng chi ngân sách Nhà Nước thì từ năm 2006 đến nay tỷ lệ chi khoa học công nghệ tăng gần 2% tổng chi NSNN.
  • Trong thời gian qua, chi cho khoa học công nghệ của Nhà nước đã đáp ứng cho hoạt động nghiên cứu phục vụ trong nông nghiệp như nghiên cứu giống cây trồng vật nuôi, phục vụ trong công nghiệp chế biến, bảo quản sản phẩm nông sản, hải sản…từng bước đưa khoa học công nghệ về nông thôn, miến núi.Ngoài ra một số chương trinh mục tiêu về lĩnh vực công nghệ, môi trường đã được triển khai như chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

Khoa học công nghệ và môi trường cũng là một trong những loại hình hoạt động sự nghiệp thuộc cơ chế “khoản 10 đối với khu vực sự nghiệp có thu” theo tinh thần của NĐ 10/2001/NĐ-CP, nếu được triển khai sẽ tạo điều kiện cho các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ tự chủ quản lý tài chính, cụ thể là quản lý lao động và tiền lương

Mặc dù đạt được một số thành tựu và có những đổi mới nhất định trong cơ chế quản lý tài chính, song chi khoa học công nghệ và môi trường trong thời gian qua vẫn tồn tại một số vấn đề cần giải quyết:

  • Qui mô chi quá nhỏ so với yêu cầu phát triển kinh tế nên tác động của khoản chi này còn rất hạn chế.
  • Từ quy mô chi còn khiêm tốn nên thu nhập của người lao động làm việc trong khu vực này chưa thỏa đáng, từ đó, vấn đề khuyến khích, thu hút lực lượng chất xám chưa đạt hiệu quả mong muốn.
  • Như vậy, xu hướng chung của kỷ nguyên phát triển kinh tế tri thức hiện nay là tri thức và thông tin đang trở thành nguồn lực trung tâm, lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò quyết định đến phát triển kinh tế là nguồn lực mà xã hội cần trân trọng và thực thi những chính sách đãi ngộ tương xứng.

2.6 Chi về y tế

  • Quy mô tổng chi sự nghiệp y tế từ NSNN không ngừng tăng lên qua các năm, bình quân đạt mức 27%/năm.
  • Với phương châm đa dạng cáchoạt động của ngành, xã hội hoá công tác y tế công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đã tiến một bước dài, bao gồm một hệ thốngcác cơ sở y tế nhà nước, y tế tư nhân, hướng tới việc phục vụ nhân dân với số lượng nhiều hơn và chất lượng cao hơn, hiệu quả hơn, công bằng hơn. Các chỉ tiêu sức khỏe nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt. Theo đánh giá của Cơ quan phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), nước ta đứng vào hàng các nước có thành tựu nổi bật về y tế so với tổng sản phẩm quốc dân,6 bệnh truyền nhiễm ở trẻ em trước đây đứng đầu danh sách các bệnh có tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong cao, nay nhờ việc tiêm chủng rộng rãi chúng ta đã thanh toán được bệnh bại liệt, khống chế được bệnh uốn ván sơ sinh, ho gà, bạch hầu. Từ tiêm phòng 6 loại vaccine do ta tự sản xuất chống viêm gan siêu vi trùng và viêm não Nhật Bản, các chương trình phòng chống bệnh sốt rét, bệnh lao, bướu cổ do thiếu iốt, hiễm HIV/AIDS, thanh toán bệnh phong đã đạt những kết quả khả quan. Sức khỏe bà mẹ, trẻ em tiến bộ rõ rệt. Theo số liệu thống kê năm 2007: Tỷ lệ chết mẹ là 0, 5 phần ngàn, tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi là 16 phần ngàn, tỷ lệ trẻ sơ sinh cân nặng dưới 2.500 gam là 5%, tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em cũng ngày càng giảm. Tuổi thọ người dân tăng đáng kể, hiện nay bình quân là 72,4 tuổi. Đến nay cả nước đó có 13.439 cơ sở khám chữa bệnh công, 75 khu điều dưỡng phục hồi chức năng, trên 1.000 phòng khám đa khoa và nhà hộ sinh khu vực, số giường bệnh nằm 1954 là 11,  giường cho 100.000 dân, đến năm 1999 đã tăng lên 169 giường cho 100.000 dân. Điều đáng ghi nhận là chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh không ngừng được nâng cao. Các bệnh viện đều được trang bị các loại máy móc dùng trong chẩn đoán và điều trị hiện đại hàng đầu thế giới. Các công nghệ mũi nhọn của y học thế giới đang từng bước được ứng dụng ở nước ta như ghép tạng, mổ nội soi, mổ tim, mổ tách trẻ song sinh, thụ tinh nhân tạo… Bên cạnh các cơ sở y tế nhà nước, một hệ thống y tế tư nhân đã bắt đầu hình thành, bao gồm 19.895 cơ sở hành nghề y, 14.048 cơ sở hành nghề dược, 7.015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, nhiều bệnh viện tư có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần làm giảm bớt sự quá tải ở các bệnh viện nhà nước. Về đào tạo, chúng ta có một hệ thống các trường đại học y, dược phân bổ trên cả nước. Mỗi năm có khoảng trên 2.500 bác sĩ, 200 dược sĩ tốt nghiệp đại học ra trường. Chúng ta đã mở trường đào tạo kỹ thuật viên trung học y dược, trong vòng mấy năm trở lại đây đó đào tạo ở trong nước cán bộ có trình độ cử nhân, chuyên khoa I và II, bảo vệ luận án thạc sĩ và tiến sĩ.

Từ chỗ chỉ có số ít cán bộ y tế vào những năm 60 của thế kỷ 20, đến nay đã có 25 vạn người, trong đó có 47 nghìn cán bộ đại học và trên 1.000 cán bộ trên đại học. Chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu lớn trong kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại. Kế thừa và phát huy hiệu quả nhiều bài thuốc, phương thuốc dân gian; thành lập được 2 viện và 48 bệnh viện y học cổ truyền, trên 300 khoa học cổ truyền trong các bệnh viện đa khoa, 8.000 cơ sở hành nghề tư nhân về y học cổ truyền; khám và chữa bệnh bằng y học cổ truyền cho khoảng trên 30% bệnh nhân. Chúng ta có những nhà máy sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP, thị phần thuốc trong nước tăng nhanh, năm 2007 mức sử dụng thuốc khoảng 13 USD/ đầu người, tổng giá trị xuất khẩu thuốc và dược liệu đạt 40 triệu USD. Các nhà máy của Việt Nam đã liên doanh liên kết với các nước sản xuất dụng cụ y tế thông thường, dụng cụ bằng cao su, chất dẻo và lắp ráp một số máy móc hiện đại.

Mạng lưới y tế cơ sở đã được xây dựng rộng khắp cả nước, từ Trung ương đến tỉnh, huyện, xã; từ đồng bằng trung du, các vùng xa xôi hẻo lánh đến tận biên giới hải đảo và đang mở rộng khắp thôn xóm bản làng với 11.544 trạm y tế xã, y tế cơ quan xí nghiệp. Nhờ mạng lưới đó nước ta đã thực hiện được nhiều mục tiêu của Tổ chức Y tế Thế giới đề ra.

  •  Tuy nhiên chi sự nghiệp y tế vẫn tồn tại một số hạn chế sau:
  • Chi còn dàn trải, không trọng điểm, đặc biệt là những khoản chi nâng cấp trạm xá, phòng khám tại các địa phương vùng sâu vùng xa. Điều này đã dẫn đến thực trạng quá tải cho các bệnh viện trung tâm, do người dân thiếu tin tưởng vào chất lượng phục vụ của các cơ sở y tế địa phương. Mặc dù chính sách tiền lương đã được cải cách từng bước đối với hoạt động sự nghiệp trong đó có ngành y tế, song vẫn chưa đáp ứng yêu cầu mức thu nhập thỏa đáng đặc biệt là chế độ trợ cấp bồi dưỡng cho đội ngũ nhân viên làm việc trong các bệnh viện vẫn còn thấp như trực đêm, trực ca mổ…đó dẫn đến những tiêu cực phí trong ngành y tế đang ngày một gia tăng làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của ngành.

2.7 Chi sự nghiệp văn hóa nghệ thuật – thể dục – thể thao.

  • Trong thời gian qua cùng với quy mô chi Ngân sách nhà nước tăng lên thì khoản chi cho sự nghiệp văn hóa nghệ thuật – thể dục – thể thao cũng không ngừng được cải thiện.

 

  • Bộ VH, T&DL đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2009 và triển khai kế hoạch công tác năm 2010 trong hai ngày 28- 29/12/ 2009 với nội dung: sơ kết thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về Văn hóa giai đoạn 2006 – 2010; sơ kết thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng phát triển giai đoạn 2011 – 2015 tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình Hành động quốc gia về Du lịch; tổng kết thực hiện Chương trình xúc tiến Du lịch quốc gia năm 2008 – 2009; Tổng kết 10 năm phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Qua đó thấy được một số thành tựu mà nước ta đã được. Bên cạnh những thành tựu đạt được, chi sự nghiệp văn hóa thể thao trong thời gian qua vẫn còn một số hạn chế như: Nhiều dự án chi có quy mô lớn song hiệu quả chưa cao, các chương trình văn hóa nghệ thuật, chương trình khuyến nông, phổ biến kiến thức trong đời sống kinh tế xã hội…chưa được đầu tư đúng mức nhằm nâng cao đời sống tinh thần của người dân địa phương.Nguồn nhân lực của ngành còn bất cập, chưa đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ đặt ra; Việc xây dựng các thiết chế văn hoá ở các cấp nhất là cấp tỉnh, cấp huyện còn chậm; Chưa triệt để thực hiện nếp sống văn minh trong tổ chức đám hiếu, hỷ…hiện tượng tổ chức ăn cỗ kéo dài 2 -3 ngày gây tốn kém, mất trật tự, thậm chí mất an toàn giao thông…

Phân bổ các nguồn chi còn đan trải cùng với sự kiểm soát không sâu sát đã dẫn đến hiện tượng thất thoát kinh phí. Các định mức bồi dưỡng, chăm lo sức khỏe cho các vận động viên thể thao, đặc biệt là các vận động viên quốc gia đã từng giành dược những giải thưởng lớn trên trường quốc tế…chưa tương xứng với cống hiến của họ cho nền thể thao nước nhà.

Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa vẫn còn những mặt hạn chế, tồn tại. Việc triển khai xây dựng phong trào tại một số địa phương chưa được chú trọng đúng mức; hoạt động triển khai thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” ở khu vực cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp còn bị coi nhẹ, nhiều nơi chưa đề ra kế hoạch, chương trình cụ thể để triển khai thực hiện phong trào hoặc đề ra nhưng không được thực hiên hay thực hiện chưa tốt.

Trong lĩnh vực xây dựng đời sống văn hóa; tỷ lệ gia đình văn hóa, khu dân cư tiên tiến, làng văn hóa, tổ dân phố văn hóa khá cao, nhưng thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội chưa có chuyển biến rõ rệt nhất là trong khu vực cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên.Việc xây cất mồ mả tự phátđốt vàng mã; các biểu hiện thiếu văn hoá nơi sinh hoạt công cộng tăng; trên cùng một địa bàn dân cư, với cùng một đối tượng là toàn bộ người dân sinh sống, đang triển khai quá nhiều phong trào và cuộc vận động do nhiều cơ quan chủ trì, với nhiều nội dung trùng lập nhau, dẫn đến vừa chồng chéo vừa phân tán trong công tácchỉ đạo, triển khai thực hiện, gây lãng phí thời gian, công sức, kinh phí và khó khăn trong việc tổ chức thực hiện, thi đua ở cơ sở.

3.Mối liên hệ giữa lạm phát với chi tiêu công

“Lạm phát là hiện tượng giá cả tăng nhanh và liên tục trong thời gian dài”. Các nhà khoa học đã thống nhất có ba nguyên nhân cơ bản gây lạm phát bao gồm:

  • Lạm phát do cầu kéo, tức là tổng cầu (tổng chi tiêu) tăng lên vượt quá mức cung ứng hàng hóa dẫn đến áp lực tăng giá cả dẫn đến lạm phát cả trong ngắn hạn và dài hạn.
  • Lạm phát do chi phí đẩy, tức là do áp lực tăng giá cả sản xuất do tốc độ tăng của chi phí sản xuất vượt quá tốc độ tăng của năng suất lao động xã hội và giảm mức cung ứng hàng hóa của xã hội, làm giá cả đồng loạt tăng. Các nhân tố chủ yếu đẩy chi phí dẫn tới lạm phát bao gồm: Mức tăng tiền lương vượt quá mức tăng năng suất lao động xã hội; lợi nhuận ròng của nhà sản xuất tăng đẩy giá cả tăng; thuế và nghĩa vụ với ngân sách nhà nước (NSNN), giá nội địa của hàng nhập khẩu tăng làm tăng giá hàng nhập khẩu…
  • Lạm phát do hệ thống chính trị không ổn định, xã hội bất ổn, người dân thiếu tin tưởng vào sự điều hành của Nhà nước và đồng tiền bản địa, dùng tiền bản địa mua hàng hóa có thể dự trữ được như vàng, ngoại tệ, bất động sản… để bảo toàn vốn, làm lạm phát bùng phát.

Theo như phân tích trên, chi tiêu công tăng đột biến và hiệu quả chi tiêu công thấp sẽ làm gia tăng lạm phát. Về lượng, chi tiêu công tăng đột biến làm tổng cầu tăng đột ngột, tức là làm nảy sinh lý do thứ nhất của lạm phát là cầu kéo. Về chất, chi tiêu công không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp so với kỳ vọng của chính phủ, hoặc hiệu quả chi đầu tư công thấp so với hiệu quả đầu tư toàn xã hội (Icor tăng cao), làm tăng chi phí xã hội là nguyên nhân đẩy chi phí sản xuất – nguyên nhân thứ hai gây lạm phát gia tăng. Khi chi tiêu công tăng về số lượng mà chất lượng chi tiêu giảm sẽ khiến người dân nghi ngờ khả năng quản lý kinh tế của chính phủ và tẩy chay đồng tiền bản địa, từ đó gia tăng tích trữ bằng cách mua sắm các tài sản như vàng, bất động sản… nhằm bảo toàn vốn, làm nảy sinh nguyên nhân thứ ba gây lạm phát.

**** Thực trạng mối quan hệ giữa chi tiêu công và lạm phát ở Việt Nam

Lạm phát thực sự đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ, doanh nghiệp và người dân. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 4/2011, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam đã tăng tới 9,4%, đã cao hơn mục tiêu kiềm chế ở 7% mà Quốc hội thông qua đầu năm.

Trong thời gian qua, lạm phát của Việt Nam luôn cao hơn một cách bất thường so với các nước trong khu vực. Trong khi ở các nước này nhìn chung mức lạm phát luôn thấp hơn mức tăng trưởng GDP (cụ thể là hầu hết đều dưới 5%) từ năm 2004 đến nay, thì lạm phát ở Việt Nam luôn cao hơn tăng trưởng GDP, nguyên nhân cơ bản của lạm phát ở Việt Nam chính là yếu tố tiền tệ. Nói một cách khác nguồn vốn đã không được sử dụng hiệu quả do: đầu tư công quá mức; sự thiên lệch trong việc phân bổ vốn ở khu vực doanh nghiệp; và cuối cùng là việc theo đuổi chính sách ổn định tỷ giá đồng tiền trong bối cảnh lạm phát luôn tăng cao làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.

Giai đoạn 2008 – 2011, Chính phủ Việt Nam gia tăng cả chi thường xuyên và chi đầu tư với tốc độ cao. Khi chúng ta muốn tăng 1% hoặc 2% GDP thì phải tốn kém rất nhiều tiền. So sánh với các nước, chúng ta thấy Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng trên 10% nhưng tốc độ tăng tín dụng chỉ khoảng 17-18%; Malaysia có tốc độ tăng trưởng kinh tế 5-6% nhưng tốc độ tăng trưởng tín dụng chỉ 7-8%; đối với Việt Nam, tốc độ tăng trưởng tín dụng phải tới 30%, thậm chí có những năm trên 50% mới đạt được tốc độ tăng trưởng trên 7%.

Nhưng trên thực tế, nhà nước đã tham gia quá nhiều vào các hoạt động kinh tế và nhiều khi còn cạnh tranh và chèn lấn khu vực tư nhân.

Cũng liên quan đến đầu tư công, chuyên gia kinh tế Nguyễn Đình Cung- Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương bổ sung thêm: “Lạm phát của Việt Nam bắt nguồn từ mô hình tăng trưởng và cách thức mà chúng ta sử dụng để đạt được mục đích tăng trưởng. Tăng trưởng của chúng ta cho đến nay chủ yếu vẫn dựa vào mở rộng đầu tư, nhưng đầu tư nhìn chung lại kém hiệu quả, nhất là đầu tư nhà nước.”

Trên thế giới, minh bạch là một trong yếu tố quan trọng để xác định việc quản trị/ quản lý chi tiêu công. Tại VN, yếu tố minh bạch đó lại khá mơ hồ, nếu không muốn nói là tuy có con số rất cụ thể về các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các đơn vị quản lý hành chính, đơn vị sự nghiệp được kiểm soát và tài trợ của Chính phủ, nhưng việc xác định, đánh giá thực chất và hiệu quả của các khoản chi đã được rót ra và được Quốc hội thông qua hàng năm, vẫn phải cần một… “độ trễ” nhất định.

. Để xác định lượng hàng hóa mà nhà nước cung cấp thông qua các khoản chi mà khu vực tư không thể tự cấp được ra xã hội có chất lượng ra sao, bao giờ người ta cũng phải chờ một “độ trễ”.

Điển hình là các khoản chi cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Trong một thời gian dài, nền kinh tế duy trì hình thức đầu tư xây dựng BT (xây dựng – chuyển giao hay còn gọi là đổi đất lấy hạ tầng) khiến tình trạng tiêu cực trong cơ chế xin – cho tràn lan. Việc sử dụng nguồn vốn ODA sai mục đích hoặc chưa đạt hiệu quả như mong muốn cũng xảy ra. Tổng kết thời kỳ 2006 – 2010 về việc huy động vốn từ nguồn ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng và kinh tế cả nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá: Do có nhiều dự án trong cùng một ngành/lĩnh vực với quy mô nguồn vốn tài trợ khác nhau đều đòi hỏi phải thực hiện các quy trình và thủ tục chuẩn bị, thẩm định và phê duyệt dự án như nhau, điều này làm gia tăng chi phí giao dịch và quá tải cho những đơn vị quản lý, nhất là cấp cơ sở, nơi năng lực quản lý dự án còn nhiều bất cập. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến thất thoát nguồn vốn chi NSNN, khiến hệ số đầu tư trong nền kinh tế luôn ở mức quá cao trong khi hiệu quả sử dụng các nguồn vốn lại khá thấp.