Thực trạng của an sinh xã hội ở Việt Nam

 

1. Kết quả đạt được.

– Quy mô dạy nghề tăng nhanh, cơ cấu trình độ chuyển mạnh sang dạy nghề dài hạn (trung cấp nghề, cao đẳng nghề). Theo thống kê, báo cáo của Tổng cục Dạy nghề, trong 9 năm (2001-2009), đã dạy nghề cho 11602,3 nghìn người, năm 2009 quy mô dạy nghề đạt 1707 nghìn người, gấp1,714 lần so với năm 2001, trong đó trung cấp nghề, cao đẳng nghề là 287,6 nghìn người, chiếm 16,85%; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề năm 2009 lên 28 (dự kiến 2010 là 39%). Kết quả này tạo cơ hội thuận lợi cho người lao động tự tạo việc làm hoặc tìm việc làm trên thị trường lao động.

– Nhờ tăng trưởng kinh tế những năm qua khá cao và ổn định, đồng thời thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, dạy nghề, xuất khẩu lao động, giảm nghèo… nên tình hình việc làm của người lao động đã có nhiều cải thiện. Theo báo cáo hàng năm của Bộ Lao động – thương binh và xã hội, tổng việc làm tăng từ 37,61 triệu năm 2000 lên 46,357 triệu năm 2009, tăng 8,747 triệu, tăng trưởng việc làm bình quân 2,58%/ năm; số việc làm mới được tạo ra các năm 2005 – 2009 bình quân khoảng 1,6 triệu. Trong đó, khoảng 75% là từ các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, 25% từ các chương trình mục tiêu và xuất khẩu lao động. Thất nghiệp thành thị có xu hướng giảm liên tục, năm 2000 là 6,42% đến năm 2009 giảm xuống khoảng 4,57%.

Hệ thống giao dịch thị trường lao động phát triển đa dạng, rộng khắp, hoạt động ngày càng sôi động, linh hoạt đáp ứng tốt hơn nhu cầu tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động trên thị trường lao động. Kết quả, hàng năm hơn nửa triệu người lao động được tư vấn; khoảng 250 ngàn người đăng ký tìm việc làm ở các trung tâm, trong đó khoảng 85% được trung tâm giới thiệu việc làm và cung ứng lao động, khoảng 65% có việc làm ổn định.

- Quy mô đối tượng tham gia BHXH tăng nhanh. Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, năm 2001, số đối tượng tham gia BHXH bắt buộc chỉ có 4,8 triệu người, đến năm 2009 tăng lên trên 9,4 triệu người, chiếm 18% lực lượng lao động và có gần 50 nghìn người tham gia BHXH tự nguyện. Năm 2001, có 11,3 triệu người tham gia BHYT, trong đó có 6,7 triệu người tham gia BHYT bắt buộc. Năm 2008, số đối tượng tham gia BHYT đã tăng lên khoảng 53,3 triệu người, chiếm trên 60% dân số cả nước, trong đó số đối tượng tham gia BHYT bắt buộc là 30 triệu người, khu vực nông thôn chiếm khoảng 20%. Có 13,2 triệu người nghèo tham gia BHYT, trong đó 93% thuộc khu vực nông thôn; gần 9,6 triệu học sinh, sinh viên tham gia BHYT, trong đó, khu vực nông thôn chiếm 40%. Khoảng 11 triệu người tham gia BHYT tự nguyện, trong đó 66,6% là người dân ở nông thôn.

– Tốc độ giảm nghèo nhanh và liên tục qua các năm. Theo chuẩn nghèo của Ngân hàng Thế giới tính cho Việt Nam tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 58,1% năm 1993, đến năm 2006 còn 16% (Theo kết quả điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam -VHLSS(1), của Tổng cục Thống kê), trong 13 năm, đã giảm hơn 2/3 hộ nghèo; theo chuẩn nghèo thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo (áp dụng từ năm 2006), đến năm 2009 tỷ lệ hộ nghèo giảm còn khoảng 11,3% (Theo báo cáo hàng năm của Bộ Lao động – thương binh và xã hội ); người nghèo tiếp cận tốt hơn các nguồn lực kinh tế và dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở…). Chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị thu hẹp dần, còn khoảng 2 lần; mức độ gia tăng chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư chậm lại.

– Số lượng đối tượng được trợ giúp xã hội (TGXH) thường xuyên ngày càng mở rộng và tăng nhanh. Năm 2005 cả nước có khoảng 416 nghìn đối tượng, đến năm 2009 tăng lên trên 1,25 triệu. Trong đó, nhóm người từ 85 tuổi trở lên chiếm 43,1%, nhóm người khuyết tật chiếm 24,5%, người già cô đơn khoảng 9,6%, người tâm thần khoảng 8,6%, người đơn thân nuôi con nhỏ khoảng 7,6%, trẻ em mồ côi khoảng 5% (Theo báo cáo hàng năm của Bộ Lao động – thương binh và xã hội). Trong lĩnh vực trợ giúp đột xuất, Theo báo cáo của Bộ Lao động – thương binh và xã hội, từ năm 2000 đến 2008, thiệt hại về dân sinh do thiên tai là rất lớn. Số người bị chết năm thấp nhất là 232 người (năm 2004), năm cao nhất là 680 người (năm 2000). Nhà bị sập, đổ, trôi năm thấp nhất là 4200 nhà (năm 2004), năm cao nhất là 9730 nhà (năm 2002). Người thiếu lương thực năm thấp nhất là 923 ngàn người (năm 2002), năm cao nhất là 1,4 triệu người (năm 2004). Thiệt hại do thiên tai gây ra năm thấp nhất là 1752 tỷ đồng (năm 2002) năm cao nhất lờn tới 5607 tỷ đồng (năm 2005). Hầu hết người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai đều được hỗ trợ, khắc phục hậu quả , khôi phục sản xuất và ổn định đời sống.

2. Những hạn chế.

2.1. Những hạn chế chung.

– Nhận thức về ASXH tuy có bước phát triển, song chưa thật thống nhất và đầy đủ. Trên thực tế nhiều vấn đề vẫn chỉ dừng lại ở tư tưởng chính sách, chưa được quán triệt một cách sâu sắc trong hoạch định chiến lược, cũng như từng chính sách ASXH cụ thể. Chính sách ASXH được ban hành rất nhiều (hơn 50 loại chính sách), nhưng thiếu tính hệ thống, chưa đầy đủ, thiếu sự liên kết và hỗ trợ nhau. Hệ thống cơ chế, chính sách và luật pháp

ASXH tuy được bổ sung, sửa đổi nhưng chưa theo kịp thực tế luôn biến đổi và còn thiếu cụ thể; nhiều quy định không sát với thực tế nên khó thực hiện, đồng thời nhiều quy định đến nay không còn phù hợp hoặc chưa mở rộng đến toàn thể dân cư, nhất là dân cư vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa; chưa bổ sung kịp thời các chính sách mới để đảm bảo ổn định cuộc sống và an sinh cho người dân.

– Thể chế đảm bảo công bằng xã hội trong kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa được hoàn thiện. Đặc biệt, chưa phân định rõ vai trò của Nhà nước và vai trò của thị trường trong phân bố các nguồn lực, nhất là phân bố chi cho chính sách ASXH. Trên thực tế, nhiều chính sách xã hội, bao gồm cả ASXH, chưa được đặt đúng và ngang tầm với chính sách kinh tế, còn đi sau chính sách kinh tế, chưa được đầu tư thoả đáng, mà còn phụ thuộc quá nhiều vào ngân sách nhà nước; chưa thực sự coi đầu tư cho chính sách xã hội, nhất là ASXH, là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển. Hơn nữa, nhiều vấn đề ASXH cần có sự đầu tư chủ yếu từ ngân sách nhà nước lại có xu hướng xoá bao cấp một cách tràn lan, thị trường hoá bằng bất cứ giá nào; Trong khi đó, một số chính sách lại có xu hướng bao cấp nặng theo kiểu ban phát, với cơ chế xin-cho dẫn đến tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước, vào cấp trên và phát sinh tiêu cực.

– Hệ thống sự nghiệp cung cấp dịch vụ ASXH không ngừng phát triển. Tuy nhiên, về nhận thức vẫn nghiêng về phát triển các tổ chức sự nghiệp công lập là chính. Sự tham gia của các đối tác xã hội vào hoạt động cung cấp dịch vụ ASXH chưa mạnh, đa dạng và chưa chuyển mạnh sang cung cấp dịch vụ công, chăm sóc đối tượng ASXH dựa vào cộng đồng là chủ yếu theo hướng xã hội hoá. Hơn nữa, cũng chưa có nhận thức thống nhất và đầy đủ về công tác xã hội như một nghề có tính chuyên nghiệp (ngày 25/3/2010, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số: 32/2010/QĐ-TTG Phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – “Chính sách ASXH được ban hành rt nhiu, nhưng thiếu tính hthng, chưa đầy đủ, thiếu s liên kết và htrnhau.” Do đó, đến nay, cũng chưa phát triển và xây dựng được một đội ngũ cán sự xã hội theo hướng chuyên môn hoá (chuyên nghiệp).

– Xã hội càng phát triển, quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường càng mạnh và hội nhập càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, thì rủi do xã hội càng nhiều. Do đó, nhu cầu đảm bảo ASXH càng đa dạng, phong phú và đối tượng ASXH tăng nhanh, đang mâu thuẫn với hệ thống ASXH hiện hành còn nhiều bất cập, khả năng mở rộng phạm vi bao phủ và mức trợ cấp còn thấp nên năng lực chống đỡ các rủi ro, biến cố của người dân chưa cao và hiệu quả.

– Việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách, luật pháp về ASXH chưa nghiêm; cải cảch hành chính về ASXH chưa đạt kết quả, còn nhiều rào cản, gây phiền hà, người dân khó tiếp cận; hiện tượng lãng phí, thất thoát, tiêu cực còn xẩy ra ở nhiều nơi. Hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin về ASXH và áp dụng công nghệ thông tin quản lý lĩnh vực ASXH còn yếu kém , nhất là chưa có mã số ASXH cá nhân.

2.2. Những hạn chế trong một số chính sách cụ thể

– Trong chính sách thị trường lao động và việc làm

Nhận thức về phát triển nguồn nhân lực, dạy nghề chưa đúng, nên nhiều năm còn coi nhẹ và đào tạo, dạy nghề chưa gắn với sản xuất, với thị trường lao động. Đặc biệt, nhận thức của một bộ phận thanh niên và xã hội về dạy nghề còn thiên lệch, ít coi trọng học nghề để lập thân, lập nghiệp.

Các chính sách chưa đủ mạnh để giải phóng triệt để mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm; nhất là thiếu chính sách khuyến khích phát triển thị trường lao động như chính sách tiền lương, tiền công chưa thực sự theo nguyên tắc thị trường và hiệu quả; chưa có chính sách thỏa đáng trọng dụng nhân tài; cũng như chính sách đầu tư mạnh phát triển hệ thống giao dịch của thị trường lao động để kết nối cung-cầu lao động.

Chưa gắn quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, nhất là phát triển các ngành kỹ thuật, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, phát triển doanh nghiệp với quy hoạch, kế hoạch đào tạo, dạy nghề, sử dụng lao động; chưa có quy định pháp lý bảo hộ thu nhập và tài sản hợp pháp của người lao động, của công dân trong kinh tế thị trường.

Chưa có nhận thức rõ ràng về xây dựng quan hệ lao động hài hòa tại doanh nghiệp phù  hợp với nền kinh tế thị trường. Đặc biệt, chưa thiết lập được cơ chế đối thoại, thương lượng và thỏa thuận thực chất giữa các bên về quan hệ lao động, giải quyết tranh chấp lao động và đình công đúng với nguyên tắc thị trường.

Hậu quả là chất lượng lao động quá thấp, thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao; chất lượng việc làm và năng suất lao động cũng rất thấp, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên rất cao; vấn đề việc làm và đời sống của lao động nông nghiệp vùng bị thu hồi đất rất bức xúc,

dòng di chuyển lao động nông thôn-thành thị có xu hướng ngày càng tăng.

– Trong chính sách BHXH

Chưa quán triệt và thực hiện đầy đủ nguyên

tắc đóng-hưởng mà còn gắn chặt việc điều chỉnh lương hưu với tiền lương tối thiểu và hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; nhận thức chưa đúng về sự

khác biệt giữa BHXH khu vực hành chính, sự nghiệp và khu vực thị trường (doanh nghiệp), nên chưa có sự tách biệt giữa 2 khu vực này.

Vấn đề xây dựng và phát triển quỹ BHXH chưa được vững chắc, có nguy cơ mất cân đối thu-chi trong dài hạn do mô hình BHXH hiện nay chưa hoàn chỉnh và phù hợp. Cơ chế quản lý và sử dụng quỹ BHXH chưa đảm bảo công khai, minh bạch; chưa có đơn vị chịu trách nhiệm hoạt động đầu tư quỹ BHXH. Cơ quan BHXH hoạt động còn mang tính hành chính, bao cấp, chưa chuyển mạnh sang đơn vị cung cấp dịch vụ công.

– Trong chính sách TGXH

Chưa có nhận thức thật đầy đủ về XĐGN bền vững nên chưa gắn thật chặt giữa tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo; XĐGN chưa gắn chặt với phát triển cộng đồng và phát triển nông thôn.

Một số cơ chế, chính sách hiện hành không còn phù hợp và có nhiều rào cản trong tổ chức thực hiện, dân khó tiếp cận.

Vấn đề nâng cao năng lực thị trường cho người nghèo, biến họ thành chủ thể, chủ động và tích cực trongphát triển kinh tế chưa được quan tâm đúng mực; chưa có hệ thống chính sách khuyến khích hộ nghèo thoát nghèo, vươn lên no ấm; chính sách hiện hành có xu hướng trở lại bao cấp, cơ chế xin-cho, làm cho tư tưởng ỷ lại, bao cấp, trông chờ vào cấp trên, vào cộng đồng và bệnh thành tích còn nặng.

Nhận thức của các cấp về TGXH trong kinh tế thị trường chưa đầy đủ và toàn diện. Khung pháp lý cho công tác TGXH còn nhiều bất cập

và thể chế hóa ở mức thấp (pháp lệnh); chưa có chính sách khuyến khích chăm sóc đối tượng dựa vào cộng đồng; chưa có cơ chế thống nhất quản lý quỹ huy động trong dân cho TGXH, cơ chế tài chính chưa rõ ràng; mức trợ cấp xã hội của Nhà nước còn thấp, mới đáp ứng được 60% mức sống tối thiểu của đối tượng.

Chưa phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ TGXH phù hợp với cơ chế thị trường (cung cấp dịch vụ công). Kết quả XĐGN chưa vững chắc, tỷ lệ hộ nghèo đã thoát nghèo nhưng nằm sát chuẩn nghèo rất lớn (70-80%), tỷ lệ tái nghèo cao(7% -10%); phân hóa giàu nghèo có xu hướng tăng. Tỷ lệ tham gia BHXH trên tổng số lực lượng lao động còn thấp(18%); hơn 20% lao động trong diện BHXH bắt buộc nhưng chưa tham gia; tỷ lệ trốn, nợ đọng BHXH còn lớn (10%). Tỷ lệ đối tượng cần TGXH chưa được hưởng trợ cấp xã hội rất lớn (gần 30%). Mức độ xã hội hóa chưa cao, Theo kết quả điều tra, khảo sát mẫu của Bộ Lao động – thương binh và xã hội, tỷ lệ chăm sóc đối tượng tại cộng đồng chưa nhiều (khoảng 25% – 30%).

3. Định hướng phát triển.

3.1. Quan điểm định hướng chung phát triển hệ thống an sinh xã hội.

– Phát triển hệ thống ASXH phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và phù hợp với khả năng của nền kinh tế Việt Namthời kỳ 2011-2020, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững, thực hiện công bằng xã hội và vì con người.

– Xây dựng và thực hiện hệ thống ASXH đa tầng, linh hoạt và có thể hỗ trợ lẫn nhau, bao gồm thị trường lao động chủ động, BHXH, BHYT và trợ giúp xã hội; đảm bảo quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân; hướng tới bao phủ toàn dân và đảm bảo mức sống tối thiểu cho mọi người, không một ai bị gạt ra bên lề xã hội.

– Phát triển hệ thống ASXH có trọng tâm, trọng điểm, trong đó đặc biệt chú ý đến trẻ em nghèo, người nghèo, người dân tộc thiểu số, nhóm xã hội yếu thế, lao động di cư, bộ phận dân cư bị mất sinh kế do phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất, người bị tác động bởi các chính sách cải cách thể chế và bởi khủng hoảng, suy giảm kinh tế…; tăng cường hiệu quả của các hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực tự an sinh cho mọi người.

- Phát triển hệ thống ASXH là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của mọi người dân. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện ASXH, đồng thời mở rộng sự tham gia của các đối tác xã hội thông qua các cơ chế khuyến khích, thu hút sự tham gia của các đối tượng vào cung cấp dịch vụ ASXH. Phát huy vai trò và trách nhiệm của cá nhân, hộ gia đình, người lao động, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc thực hiện các mục tiêu ASXH theo tinh thần xã hội hóa…

- Phát triển hệ thống ASXH với nội dung, cách tiếp cận và chuẩn mực mang tính hội nhập quốc tế; tăng cường sự liên kết, hợp tác khu vực và quốc tế thực hiện chính sách ASXH đối với người lao động trong bối cảnh liên kết kinh tế và di chuyển lao động trên phạm vi quốc tế ngày càng mạnh. “Phát trin hthng ASXH là trách nhim ca chthng chínhtrvà ca mi người dân.”

3.2. Những định hướng cụ thể

a. Phát triển thị trường lao động gắn kết cung – cầu lao động, nhiều người có việc làm với thu nhập đảm bảo cuộc sống và giảm thất nghiệp.

- Tập trung mọi nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng và trình độ cao. Tạo bước đột phá về dạy nghề gắn với nhu cầu của nền kinh tế, của xã hội, nhu cầu việc làm của người lao động và nâng cao chất lượng dạy nghề nhằm tạo cơ hội cho mọi người tự tạo việc làm và tìm việc làm trên thị trường lao động. Đặc biệt, mở rộng quy mô dạy nghề cho người lao động ở nông thôn, phục vụ có hiệu quả cho chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn, tạo nhiều việc làm có thu nhập cao, cải thiện đời sống cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội. Thực hiện chính sách xã hội trong dạy nghề, nhất là cho lao động nông thôn, bộ đội xuất ngũ, con em gia đình chính sách xã hội, gia đình nghèo, thanh niên dân tộc thiểu số, người tàn tật còn khả năng lao động…

– Bảo đảm tạo đủ việc làm, việc làm bền vững, có chất lượng và thu nhập cao cho người lao động (cả trong nước và xuất khẩu lao động); đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, nhất là công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

– Phát triển thị trường lao động đồng đều giữa các vùng kết nối cung – cầu lao động; tăng lao động làm công ăn lương. Phát triển hệ thống thông tin, phân tích và dự báo thị trường lao động áp dụng công nghệ thông tin hiện đại và nối mạng quốc gia; thiết lập hệ thống kết nối giữa hướng nghiệp-dạy nghề-thông tin, tư vấn, giới thiệu việc làm-doanh nghiệp, người sử dụng lao động.

b. Phát triển mạnh và đa dạng hệ thống BHXH, BHYT, tiến tới BHYT toàn dân

– Xây dựng một hệ thống BHXH hoàn chỉnh, đa dạng, theo nguyên tắc đóng  hưởng, bao gồm BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Nghiên cứu chuyển mô hình bảo hiển hưu trí hiện nay (tọa thu, tọa chi) sang mô hình tài khoản cá nhân danh nghĩa.

– Nghiên cứu tách BHXH đối với khu vực hành chính sự nghiệp và khu vực doanh nghiệp. BHXH khu vực hành chính, sự nghiệp gắn liền với chính sách cán bộ và nền hành chính quốc gia, gắn với cung cấp dịch vụ công và về cơ bản có nguồn đóng góp từ ngân sách nhà nước. Bảo hiểm xã hội khu vực doanh nghiệp gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh.

– Bổ sung, sửa đổi các chế độ BHXH còn bất hợp lý; điều chỉnh lương hưu và trợ cấp BHXH theo cơ chế tạo nguồn, độc lập tương đối với chính sách tiền lương, giảm dần phần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.

– Khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm tự nguyện khác, nhất là doanh nghiệp thực hiện bảo hiểm hưu trí theo cơ chế thỏa thuận, từng bước cho phép khu vực tư nhân tham gia thực hiện bảo hiểm hưu trí.

c. Tiếp tục thực hiện chủ trương khuyến khích làm giàu, đồng thời tích cực giảm nghèo vững chắc, vươn lên no ấm (khá giả); ổn định và từng bước cải thiện đời sống đối tượng trợ giúp xã hội, tạo điều kiện và cơ hội cho đối tượng hoà nhập tốt hơn vào cộng đồng

– Thực hiện chính sách tăng trưởng gắn với giảm nghèo bền vững; đưa mục tiêu giảm nghèo vào nội dung chiến lược phát triển kinh tế – xã hội chung của cả nước, của từng vùng và địa phương; vào chiến lước phát triển nông nghiệp, nông thôn; xây dựng và thực hiện chương trình phát triển cộng đồng và phát triển nông thôn gắn với giảm nghèo. Tạo điều kiện cho người nghèo nâng cao năng lực thị trường và đa dạng hóa sinh kế thông qua các chương trình dạy nghề, hướng dẫn cách làm ăn, tiếp cận các nguồn lực kinh tế và các thị trường cơ bản (đất đai, vốn, thị trường lao động, khoa học-kỹ thuật và công nghệ, thị trường hàng hóa đầu vào, đầu ra…) để tạo việc làm, đa dạng hóa và tăng thu nhập. Tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận thuận lợi và với chi phí thấp các dịch vụ xã hội cơ bản, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội; hỗ trợ người nghèo từng bước tiếp cận dịch vụ xã hội chất lượng cao (giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, văn hoá…). Giảm nguy cơ rủi ro cho người nghèo, nhất là rủi ro do thiên tai, do cơ chế thị trường, sự tác động của các cú sốc từ bên ngoài (khủng hoảng, suy thoái kinh tế thế giới, lạm phát…), cũng như những bất trắc trong cuộc sống (ốm đau, bệnh tật, tai nạn…). Tập trung nguồn lực cho các vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số…thông qua chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững ở các vùng này.

– Sửa đổi, bổ sung chế độ trợ cấp xã hội dựa trên cơ sở mứcsống tối thiểu của toàn xã hội và đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích sự nỗ lực vươn lên của bản thân đối tượng nhằm bảo đảm mức sống của đối tượng bằng mức trung bình trở lên của xã hội. Chủ động phòng tránh thiên tai, tác động của biến đổi khí hậu đến lao động, việc làm và thu nhập của người dân, nhất là ở nông thôn, các vùng thường xuyên bị thiên tai… Đa dạng hóa các loại hình trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội tự nguyện, nhân đạo, chuyển mạnh sang cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận và chăm sóc đối tượng dựa vào cộng đồng. Tạo cơ hội và ưu tiên cho các đối tượng chính sách xã hội tiếp cận nguồn lực kinh tế (trước hết là người còn khả năng lao động), dịch vụ công thiết yếu, bình đẳng về giáo dục, đào tạo, dạy nghề, tạo việc làm, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, văn hóa, thông tin… thông qua thực hiện các chương trình mục tiêu.

– Bảo đảm quyền cơ bản cho trẻ em trong phát triển (thể chất và tinh thần), tạo tiền đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tập trung nguồn lực bảo vệ và chăm sức trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (trẻ em mồ côi, trẻ em khuyết tật, trẻ em lang thang kiếm sống…); nhất là phòng ngừa và giải quyết trẻ em bị xâm hại, bị bạo lực, trẻ em lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Ưu tiên hỗ trợ bảo vệ và chăm sóc trẻ em vùng nông thôn nghèo và khó khăn, vùng dân tộc, miền núi. Phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ bảo vệ và chăm sóc trẻ em nhằm bảo đảm cho mọi trẻ em, đặc biệt là trẻ em có nguy cơ cao bị hạn chế phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tiếp cận các dịch vụ nàythuận lợi và hiệu quả.