Thực trạng của quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường

1.Thành tựu đạt được.

Gần 20 năm bước vào công cuộc đổi mới nền kinh tế đang được cấu trúc lại, hình thành các hình thức sở hữu và kinh doanh đa dạng, năng động hơn nhiều so với trước. Các đơn vị kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế là chủ thể của thị trường, có quyền độc lập tự chủ kinh doanh, tự chịu lãi lỗ.
Kinh tế thoát khỏi khủng hoảng triền miên hàng chục năm và bước đầu thời kì phát triển toàn diện và tăng trưởng liên tục. Tốc độ tăng GDP bìng quân 1 năm của thời kì 1996-2000 đạt 7% so với 3,9% thời kì 1986-1990. Lạm phát giảm từ 374,6%năm 1986 xuống còn 67,4%năm 1990; 12,7% năm 1995; 0,1% năm 1999; và 0% năm 2000. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng liên tục với tốc độ trên 2 con số. Bình quân thời kì 1991-1995 tăng 13,7%, thời kì 1996-2000 trên 13,2%. Mức bình quân đầu người của nhiều sản phẩm công nghiệp như điện, than, vải, thép, xi măng…,tăng nhanh trong những năm đổi mới, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân và xuất khẩu. Riêng ngành công nghiệp khai thác dầu khí, xuất hiện trong thời kì đổi mới với sản lượng 40 ngàn tấn dầu thô năm 1986 đã tăng lên 15 triệu tấn năm 2000 với giá trị xuất khẩu 3,3 tỉ USD. Không chỉ tăng trưởng cao mà sản xuất công nghiệp những năm cuối thế kỉ XX đã xuất hiện xu hướng đa ngành, đa sản phẩm và đa thành phần, trong đó công nghiệp quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo .

Nông nghiệp phát triển toàn diện cả trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừngvà thuỷ sản. Thành tựu nổi bật nhất là đã giải quyết vững chắc an toàn lương thực quốc gia, biến Việt Nam tự nước thiếu lương thực trước năm 1986 thành nước xuất khẩu thư 2 thế giới. Tính chung 12 năm qua đã xuất 30,5 triệu tấn gạo, bình quân 2,54 triệu tấn/năm nhưng giá cả lương thực trong nước vẫn ổn định, kể cả nhũng năm thiên tai lớn như 1999, 2000. Năm 2000sản lượng cà phê xuất khẩu đã đạt 660 nghìn tấn, gấp 2,7 lần năm 1995 và đứng thứ 2 thế giới sau Bra-xin. Giá trị xuất khẩu thuỷ sản đạt 1,4 tỉUSD, gấp 2,5 lần năm 1995. Hàng thuỷ sản Việt Nam hiện đã được công nhận trong danh sách nhóm I của các nước xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường EU. Hoạt động đầu tư nước ngoài bắt đầu từ năm 1988 với 37 dự án và 371 triệu USD, đén nay cả nước có hơn 3000 dư án với hơn 700 doanh nghiệp thuộc 62 nước và vùng lãnh thổ với tổng vốn đăngkí trên 36 tỉ USD, vốn thực hiện 17 tỉ USD. Khu vực này đã nộp ngân sách hơn 1,52 tỉ USD, tạo ra hơn 21,6 tỉ USD hàng hoá xuất nhập khẩu và giải quyết việc làm cho 32 vạn lao động trực tiếp và hơn 1 triệu lao động gián tiếp. Cùng với đó đời sống nhân dân được nâng lên cả về vật chất và tinh thần. Thu nhập của dân cư tăng bình quân 10% trong 15 năm đổi mới. Bộ mặt đất nước thay đỏi ngày càng văn minh, hiện đại.

2. Những tồn tại khó khăn

Thị trường nước ta hình thành chưa đồng bộ hoàn thiện còn nhiều bất cập. Thị trường chứng khoán còn mới phôi thai, qua hơn một năm hoạt động với hàng hoá quá nghèo nàn, có lẽ còn lâu mới trở thành phong vũ biểu cho nền kinh tế như ở các nước phát triển. Thị trường bất động sản, thị trường lao động và nhiều thị trường khác chưa phát triển. Sự cạnh tranh trên thị trường còn nhiều yếu tố bất bình đẳng. Vì vậy, sự phân phối và sử dụng nguồn lực như đất đai, lao động, nguồn vốn còn kém hiệu quả.

Sự tăng trưởng của nền kinh tế chưa thật ổn định và vững chắc. Sự tăng trưởng này chủ yếu theo đầu tư vốn và lao động.Chưa tạo lập được một hệ thống thị trường đầy đủ theo yêu cầu của cơ chế thị trường, thị trường hàng hoá và dịch vụ tuy có hoạt động sôi nổi nhưng chỉ tập trung ở thành phố, đô thị lớn và một số tỉnh biên giới, về cơ bản là tự phát, lộn xộn rất không bình thường, thị trương nông thôn không được quan trọng. măt khác nó cũng chưa với tới bàn tay vô hình tới những vùng miền núi, trung du – nơi có tiềm năng lớn về tài nguyên khoáng sản. Trong khu vực kinh tế nhà nước, thị trường lao động chỉ tồn tại ở trình độ thấp, còn có 1/3 trong số hơn 6000 doanh nghiệp nhà nước làm ăn chưa có lãi hoặc thua lỗ.Tình trạng kinh doanh phi pháp rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng, buôn lậu, làm hàng giả ngày càng gia tăng phá hoại sản xuất nội địa gây thiệt hại cho lợi ích người tiêu dùng và gây thất thu cho ngân sách nhà nước. Trình độ lực lượng sản xuất ngày càng thấp kém có nguy cơ tụt hậu so với nhiều nước. Mặt khác kết cấu hạ tầng trong kinh tế còn quá kém, việc phát triển nguồn lực con người nhăm tạo ra lực lượng lao động có kĩ thuật, năng suất-cơ sở quan trọng nhất cho sự cất cánh của nền kinh tế còn quá hạn hẹp. Sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội đang diễn ra khá nhanh và có xu hướng ngày càng gia tăng.