Thực trạng của quan hệ phân phối ở nước ta

Trong giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa trước đổi mới, chúng ta chủ trương thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu và trên cơ sở đó thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động máy móc của Mác dưới CNXH vào hoàn cảnh chra chín muồi trong nền kinh tế tập trung ở nước ta. Dẫn tới hành động của chúng ta là nhanh chóng chóng cải tạo các thành phần kinh tế bằng mọi giá, để tạo lập hai hình thức sở hữu nhà nước và tập thể, và tưởng thế là chúng ta đã có được cơ sở kinh tế của CNXH làm cơ sở cho phân phối theo lao động. Mặt khác, trong lĩnh vực trao đổi, chúng ta lại thực hành phân phối bằng hiện vật một cách rộng khắp, từ sản xuất, đến tiêu dùng. Khiến quan hệ hàng tiền bị thủ tiêu, thước đo lao động bằng giá trị bị phủ định. Kết quả là trong phân phối ta không thực hiện được phân phối đúng cho lao động, đảm bảo công bằng xã hội mà lại đưa đến sự “quân bình xã hội”. Điều đó đã tạo ra kẻ hở, làm triệt tiêu những nhân tố tích cực, dám hy sinh vì nghĩa lớn, biết quên mình trong lao động. Đồng thời tạo ra chỗ dựa cho thói lười nhác, ỷ lại, dựa dẫm, ăn bám ở khắp mọi nơi mọi người. Đây cũng là một trong các nguyên nhân đẩy xã hội ta vào tình trạng trì trệ, nghèo nàn, chậm phát triển. Tất cả những khó khăn đó đã dẫn tới tổng sản phẩm xã hội từ năm 1976 – 1980 bình quân hàng năm chỉ tăng 1%, thu nhập quốc dân sản xuất bình quân hàng năm tăng 0,2 %, trong khi dân số tăng bình quân hàng năm là 2,25%. Điều này đã làm cho chỉ tiêu tổng hợp tính bình quân đầu người giảm xuống: thu nhập quốc dân sản xuất theo đầu người bình quân hàng năm từ năm 1976 – 1980 giảm 1,37%; thu nhập quốc dân sử dụng bình quân đầu người giảm 5,15%. Quỹ tiêu dùng cá nhân của dân cư liên tục giảm: năm 1976 là 100% thì năm 1977 còn 95,5%;1978:92,8%;1980:88,6%. Các chỉ tiêu khác do Đảng đề ra chỉ đạt ở mức thấp.

Nhận rõ dược các sai lầm thiếu sót, từ năm 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã chuyển hướng nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự điều tiết của Nhà nước, đa dạng hoá các thành phần kinh tế lấy kinh tế quốc doanh làm nòng cốt, kinh tế tập thể không ngừng được mở rộng theo nguyên tắc hiệu quả, tự nguyện… Đồng thời thực hiện nguyên tắc phân phối vừa theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, vừa theo mức đóng góp vốn (trong đó phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu). Về nguyên tắc phân phối mới này, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đã khẳng định: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội ”

Nguyên tắc phân phối “vừa theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, vừa theo mức đống góp vốn” mà chúng ta thực hiện từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới so với nguyên tắc phân phối theo lao động mà chúng ta đã thực hiện trong thời gian trước có hai điểm khác nhau cơ bản :
Điểm khác nhau thứ nhất liên quan đến cách xác định sự cống hiến bằng sức lao động của mỗi người cho xã hội. Sự cống hiến của mỗi người trong xã hội dù được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, song vẫn có thể quy về hai loại cơ bản: cống hiến bằng sức lao động và cống hiến bằng sự góp vốn. Nguyên tắc phân phối theo lao động, như chúng ta đã biết, là nguyên tắc phân phối căn cứ vào cống hiến bằng sức lao động. Nếu chỉ thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động thì giá trị của tổng sản phẩm xã hội sẽ được chia thành hai phần: một phần được dành để tái sản xuất, để giải quyết các vấn đề xã hội chung ; phần còn lại sẽ được phân phối cho các cá nhân theo sự cống hiến bằng sức lao động của họ trong xã hội. Phân phối cho các cá nhân theo mức cống hiến bằng sức lao động có nghĩa là: ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít, ai không làm thì không hưởng. Còn trong thời kỳ đổi mới, chúng ta xá định sự cống hiến bằng sức lao động của mỗi người trong xã hội căn cứ vào “kết quả lao động và hiệu quả kinh tế”, nói gọn là căn cứ vào hiệu quả lao động

Điểm khác nhau cơ bản thứ hai là, trong thời kỳ trước đổi mới, chúng ta chủ trương chỉ thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, còn trong thời kỳ đổi mới, chúng ta chu trương thực hiện đồng thời cả nguyên tắc phân phối theo lao động và phân phối theo mức đóng góp, trong đó nguyên tắc phân phối theo lao động là chủ yếu. Khi thực hiện đồng thời cả hai nguyên tắc thì giá trị tổng sản phẩm xã hội sẽ đựoc chia thành ba phần: một phần dành để tái sản xuất, phần thứ hai được phân phối cho người lao động theo mức cống hiến bằng sức lao động cho xã hội, phần thứ ba được phân phối cho người có vốn đóng góp (ai góp nhiều hưởng nhiều, ai góp ít hưởng ít, ai không góp không hưởng). Người nào vừa có vốn đóng góp, vừa có cống hiến bằng sức lao động sẽ được hưởng cả trong phần thứ hai và trong phần thứ ba. Trên thực tế, mỗi người do đều có quyền sở hữu một phần giá trị như nhau trong tổng số giá trị của tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân nên đều có quyền thu nhập như nhau từ vốn góp của mình, thu nhập này được được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau trong đó có cả phúc lợi xã hội. Nhưng ngoài số thu nhập như nhau ấy, một số người có vốn đóng góp thêm còn có thêm thu nhập hợp páhp khác dù không trực hay gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tức là dù không có cống hiến bằng sức lao động. Giá trị gia tăng của tiền cho vay mà người cho vay được hưởng là hình thức dễ nhìn thấy của thu nhập hợp pháp không phải do cống hiến bằng sức lao động mà do cống hiến bằng sự góp vốn.

Chủ trương thực hiện nguyên tắc phân phối vừa theo lao động, vừa theo mức đóng góp vốn là sự đổi mới quan trọng trong quan điểm quan trọng của Đảng ta về phân phối nói riêng, về con đường đi lên CNXH nói chung. Đay sẽ là chủ trương lâu dài, tương ứng với độ dài của thời kỳ quá độ lên CNXH. Bởivì, chỉ khi nào giá trị tư liệu sản xuất của Nhà nước ta nhiều đến mức không cần thu hút sự đóng góp của các cá nhân để phát triển sản xuất thì lúc đó chúng ta mới chấm dứt việc thực hiện nguyên tắc phân phối vừa theo lao động vừa theo mức đóng góp vốn để chuyển sang thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động. Và cũng chỉ khi đó, thời kỳ quá độ lên CNXH mới kết thúc và CNXH mới được hình thành.
Theo quan niệm mới về công bằng xã hội, sự góp vốn cũng được coi là cống hiến và thu nhập ở mức độ hợp lý có được do sự đóng góp vốn cũng là công bằng. Nên với việc thực hiện nguyên tắc phân phối đó trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay, chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được mục tiêu công bằng xã hội, khái niệm “ông bằng xã hội” đã mang nội dung mới. Đó là nguyên nhân cơ bản làm cho tình hình kinh tế-xã hội của nước ta có nhiều chuyển biến tích cực: lực lượng sản xuất bước đầu phát triển, đời sống của đa số nhân dân tiép tục được cải thiện, xã hội cơ bản ổn định…

1. Ưu điểm

Quan hệ phân phối thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Quan hệ phân phối tạo động lực cho người lao động sản xuất cũng như làm việc ngày càng nhiều vì lợi ích của bản thân, của doanh nghiệp cũng như của toàn xã hội, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước từng bước nâng cao thu nhập của các tầng lớp dân cư. Cụ thể là

Trong 5 năm 1991-1995 nền kinh tế đã khắc phục được tình trạng trì trệ suy thoái ; đạt mức tăng trưởng khá cao, liên tục và tương đối toàn diện; thực hiện vượt mức hầu hêt các chỉ tiêu đề ra trong thời gian đó: tổng sản phẩm trong nước(GDP) tăng bình quân hằng năm là 8,2%; lạm phát bị đẩy lùi từ 774,7 năm 1986 xuống còn 67,1 năm 1991và 12,7 năm 1995. Đầu tư toàn xã hội bằng vốn trong và ngoài nước so với GDP năm 1990 là 15,8,n năm 1995 là 27,4. Lương thực không những đủ ăn mà còn xuất khẩu được mỗi năm khoảng 2 triệu tấn.

Còn trong 5 năm 1996-2000 nền kinh tế đã đạt được nhiều thành tựu: kinh tế tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân hằng năm 7%, trong đó GDP năm 2000 gấp đôi GDP năm 1990. Tổng quỹ tiêu dùng tăng bình quân hàng năm hơn 5%, tiêu dùng bình quân đầu người tăng hàng năm gần 3,5%; tỷ lệ tích luỹ trong tổng tích luỹ tiêu dùng bình quân 5 năm là 26,8%; riêng năm 2000 khoảng 28,7%; tỷ lệ tiêu dùng tương ứng khoảng 71,3%. Đời sống vật chất của nhân dân được cải thiện : mỗi năm thêm hơn 1,2 triệu việc làm mới; tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn nước ta) từ trên 30% giảm xuống 10%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm từ 2,3 % giảm xuống 1,4%. Tuổi thọ trung bình tưng từ 65,2 tuổi lên 68,3 tuổi và nhiều những thành tựu khác nữa.

Nó thực hiện công bằng xã hội, góp phần phân phối lại lực lượng lao động của toàn bộ xã hội. Nguyên tắc phân phối của nước ta hiện nay là:phân phối vừa theo lao động vừa theo mức đóng góp vốn. Việc phân chia công bằng tỷ lệ giữa phân phối theo lao động và phân phối theo mức đóng góp vốn để cả hai bên (người chủ sở hữu vốn và người lao động) đều hài lòng sẽ phụ thuộc vào tình hình cụ thể trong từng đơn vị và từng thời điểm; tỷ lệ ấy phải do thực tiễn cuộc sống quy định. Qua việc xác định các tỷ lệ đó mà thực hiện được sự phân phối đầy đủ cho các cá nhân trong toàn xã hội và thực hiện được công bẵng xã hội. Trước đay, chúng ta quan niệm rằng “không làm thì không hưởng” mới là công bằng, còn “không làm mà có hưởng” là bất công bằng. Quan niệm ấy là một nguyên nhân về nhận thức dẫn chúng ta tới chủ trương chỉ thực hiện nguyên tăcs phân phối theo lao động mà không thực hiện nguyên tắc phân phối vừa theo lao động, vừa theo mức đóng góp vốn. Nếu theo quan niệm cũ về công bằng xã hội thì hiện nay, chúng ta chưa thể thực hiện được mục tiêu công bằng xã hội. Bởi vì, Mục tiêu đó chỉ có thể đạt được khi mà mọi người đều có bình đẳng trong việc sở hữu tư liệu sản xuất, mà sự bình đẳng của tất cả mọi người trong việc sở hữu tư liệu sản xuất lại chỉ tất yếu xuất hiện khi giá trị của tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân đã nhiều đén mức xã hội không cần sự góp vốn của các cá nhân. Theo quan niệm mới về “công bằng xã hội”, sự góp vốn cũng được coi là sự cống hiến và thu nhập ở mức độ hợp lý có được do sự đóng góp vốn cũng là công bằng. Với quan niệm mới này, chúng ta có thể đạt được mục tiêu công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay.

2 Nhược điểm và tồn tại của quan hệ phân phối ở nước ta

+ Sự chênh lệch, bất hợp lý giữa các bộ phận, các ngành nghề, các vùng khác nhau.
+ Tình trạng tham ô còn diễn ra.
+ Nhiều cán bộ chủ chốt bị tha hóa về đạo đức, nhân phẩm