Thực trạng đánh giá sản phẩm dở dang và xác định giá thành sản phẩm

Qua thực hiện khảo sát thấy rằng các công ty xi măng đều thực hiện đánh giá sản phẩm dở dang theo thực tế.

Số liệu khảo sát tại phụ lục 2.1e cho thấy có 67% các công ty không tính giá thành nửa thành phẩm là clinker, đây là những công ty không tự khai thác được nguồn nguyên liệu và không có đủ công nghệ để nung clinker. Do đó phải mua clinker từ các nhà máy xi măng có quy mô lớn, thực hiện đánh giá sản phẩm dở dang theo CP NVLTT và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp giản đơn.

Trong khi đó có 33% công ty xi măng có tính giá thành nửa thành phẩm clinker. Đây là những công ty tự khai thác đá vôi, đất sét vv …để sản xuất ra clinker thực hiện tính giá thành thực tế theo phương pháp phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm clinker, thực hiện kết chuyển chi phí và nửa thành phẩm tuần tự từ giai đoạn trước sang giai đoạn sau, sơ đồ 2.9.

Hay thực hiện theo các bước cụ thể

Bước 1: tính giá NTP giai đoạn 1

Zbột liệu­ = Dđk + C – Dck

Trong đó: Ddk và Dck là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đầu kỳ và cuối kỳ; C là chi phí phát sinh trong kỳ

Bước 2: tính giá thành nửa thành phẩm giai đoạn 2

Zclinker = Dđk + (C + Zbột liệu) – ­Dck

Bước 3: tính giá thành nửa thành phẩm giai đoạn 3

Zxi măng bột = Dđk + (C + Zclinker) – ­Dck

Bước 4: tính giá thành xi măng bao toàn Công ty

Zxi măng bao = Dđk + (C + Zxi măng bột) – ­Dck

Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ tại Công ty Cổ phần xi măng Trung Hải, do đặc điểm tổ chức sản xuất của Công ty chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí phát sinh nên công ty tiến hành đánh giá sản phẩm làm dở dang theo chi phí NVLTT. Theo phương pháp này sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ tính toán phần chi phí NVL chính trực tiếp, còn chi phí NCTT và chi phí SXC tính cả cho sản phẩm hoàn thành.

Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ tại Công ty xi măng Phúc Sơn do đặc điểm giai đoạn I là giai đoạn sản xuất clinker, đây là giai đoạn sản xuất nửa thành phẩm. Sau khi sản xuất được nửa thành phẩm clinker, một phần Công ty bán ra ngoài, số còn lại chuyển sang giai đoạn II là giai đoạn sản xuất xi măng. Do đầu tháng sau, công ty tiến hành nghiệm thu thành phẩm, bán thành phẩm hoàn thành trong kỳ, sau đó lập quyết toán vật tư cho sản xuất nên công ty không tiến hành đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ, (phụ lục 2.3-1PS đến 2.3-6PS).

Sản phẩm dở dang cuối kỳ tại Công ty sản xuất VLXD Thành Công bao gồm bột liệu chưa hoàn thành tại phân xưởng nghiền Clinker tồn trong si lô tại phân xưởng clinker, xi măng rời chưa nghiền xong tại phân xưởng xi măng. Tại Công ty kiểm kê sản phẩm dở dang được tiến hành vào cuối tháng, đại diện các phòng Kế toán-Tài chính, phòng Kế hoạch vật tư và đại diện các phân xưởng tiến hành kiểm kê khối lượng sản phẩm dở dang, cụ thể là khối lượng các loại hỗn hợp nguyên liệu trong các si lô của từng phân xưởng sau đó lập biên bản kiểm kê tồn si lô. Căn cứ vào biên bản này, kế toán giá thành sẽ tính giá khối lượng dở dang cuối kỳ. Giá tính chi phí sản xuất sản phẩm dở dang của sản phẩm theo công đoạn là đơn giá thực tế phát sinh trong kỳ của đơn vị (bằng tổng chi phí sản xuất theo công đoạn (:) chia cho tổng khối lượng sản phẩm theo công đoạn thực hiện trong kỳ).

Để tập hợp tất cả các CPSX có liên quan đến tính giá thành sản phẩm, Công ty sử dụng TK 154 – CPSXKD dở dang, tài khoản này được mở chi tiết thành các tài khoản cấp 2 ứng với từng công đoạn sản xuất sản phẩm, (phụ lục 2.2-13HT)

Cuối kỳ kế toán, tiến hành kết chuyển chi phí SXKD dở dang của mỗi công đoạn sang chi phí SXKD dở dang công đoạn tiếp theo để tính giá thành cho từng công đoạn theo phương pháp phân bước. (phụ lục 2.2-14HT).