Thực trạng đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước

 

Trong thời kỳ đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, cơ chế, chính sách, biện pháp đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Đặc biệt là trong thời gian gần đây, Quốc hội và Chính phủ đã chỉ đạo soạn thảo và ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng tạo cơ sở pháp lý nhằm đẩy mạnh quá trình sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và đã đạt được những kết quả chủ yếu như sau:

1. Bước đầu đã thiết lập được hệ thống khung pháp lý tương đối đồng bộ theo hướng tạo môi trường bình đẳng, không biệt giữa các thành phần kinh tế, giảm thiểu các thủ tục gia nhập thị trường; hoàn thiện tổ chức quản lý, quản trị doanh nghiệp, trong đó quyền và nghiã vụ của chủ sở hữu Nhà nước đối với doanh nghiệp đã được sửa đổi theo hướng Nhà nước chỉ thực hiện các quyền và nghiã vụ như các chủ đầu tư, sở hữu vốn góp vào doanh nghiệp như các chủ đầu tư, chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác tạo điều kiện để doanh nghiệp nhà nước nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hiệu quả sản xuất kinh doanh phù hợp với cơ chế thị trường nhằm giải phóng và phát huy tối đa các nguồn lực trong doanh nghiệp phát triển kinh tế xã hội đất nước, phù hợp với lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế. Cụ thể là đã ban hành:

– Tiêu chí, danh mục phân loại công ty nhà nước và công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc tổng công ty nhà nước làm cơ sở cho việc xây dựng đề án sắp xếp, tổ chức lại khu vực doanh nghiệp nhà nước theo hướng thu hẹp ngành, lĩnh vực mà Nhà nước cần giữ 100% vốn tại doanh nghiệp, cổ phần hoặc vốn góp chi phối tại doanh nghiệp khi thực hiện cổ phần hóa, đa dạng hóa sở hữu.

– Các cơ chế, chính sách nhằm đổi mới cơ chế, tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước như quy định về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhà nước; quy định về giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; về quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác; về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; về chuyển tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước quy mô lớn sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con, hình thành các tập đoàn kinh tế,… nhằm đổi mới cơ chế hoạt động, nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của công ty nhà nước; quy định rõ hơn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, động lực cũng như trách nhiệm của bộ máy quản lý công ty nhà nước; đổi mới mô hình, cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động của tổng công ty nhà nước,…

– Các cơ chế, chính sách về sắp xếp, chuyển đổi sở hữu như: (i) quy định về cổ phần hóa công ty nhà nước theo hướng thực hiện công khai minh bạch theo nguyên tắc thị trường, khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp, gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán, mở rộng đối tượng mua cổ phần, giá trị doanh nghiệp được xác định theo cơ chế thị trường, cho phép bán bớt cổ phần tại các doanh nghiệp Nhà nước giữ cổ phần chi phối; (ii) quy định về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê công ty nhà nước theo hướng mở rộng quy mô doanh nghiệp áp dụng, mở rộng đối tượng tham gia mua công ty nhà nước cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các nhà đầu tư nước ngoài, nâng mức tỷ lệ tham gia góp vốn của các đối tượng này; (iii) quy định về phá sản doanh nghiệp đã được sửa đổi theo hướng đơn giản hóa trình tự, thủ tục tạo điều kiện cho các công ty nhà nước lâm vào tình trạng phá sản có thể thực hiện phá sản.

– Bên cạnh đó, nhiều cơ chế, chính sách khác cũng được ban hành tạo điều kiện cho quá trình sắp xếp, đổi mới và phát triển khu vực doanh nghiệp nhà nước như ban hành cơ chế quản lý và xử lý nợ tồn đọng đối với doanh nghiệp nhà nước, thành lập Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp – công cụ hỗ trợ doanh nghiệp lành mạnh hóa tài chính, góp phần tách bạch chức năng quản lý và chức năng kinh doanh, chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước,…

2. Đã xây dựng và phê duyệt các đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước phù hợp với vai trò của khu vực doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường làm cơ sở cho các bộ, ngành, địa phương tiến hành tổ chức thực hiện. Cụ thể là theo các đề án sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước của các bộ, ngành và địa phương đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì số lượng doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước chỉ còn khoảng 40% so với hiện nay; cổ phần hóa 43%; giao bán khoán kinh doanh và cho thuê 4,5%; còn lại sẽ giải thể, phá sản, chuyển sang đơn vị sự nghiệp có thu; tổng số vốn nhà nước tại các doanh nghiệp còn khoảng 84%; lao động trong doanh nghiệp nhà nước còn khoảng 950 nghìn người (giảm 30,4%).

Điểm đáng chú ý là, tháng 11/2005 Quốc hội vừa thông qua Luật Doanh nghiệp, trong đó quy định trong thời hạn 4 năm kể từ ngày Luật Doanh nghiệp có hiệu lực (1/7/2006), tất cả công ty nhà nước phải chuyển sang công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn. Đây là giải pháp quan trọng trong thời gian tới nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động bình đẳng trên cùng mặt bằng pháp lý với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

3. Kết quả thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước:

(i) Việc sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trong thời gian vừa qua đã giảm đáng kể số lượng doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp quy mô nhỏ hoặc doanh nghiệp không cần duy trì sở hữu Nhà nước) và đã có tác động góp phần nâng cao năng lực nói chung của cả khu vực doanh nghiệp nhà nước, tập trung chủ yếu vào những ngành, lĩnh vực quan trọng. Tính đến 31/12/2005, cả nước chỉ còn  3067 công ty nhà nước (bằng 58,2% số lượng công ty nhà nước năm 2000) và 944 doanh nghiệp có cổ phần chi phối của Nhà nước.