Thực trạng hệ thống báo cáo và phân tích báo cáo kế toán quản trị chi phí

Theo phương diện những người quản lý yêu cầu cung cấp các thông tin về KTQTCP thông qua các Báo cáo quản trị là rất cần thiết, theo kết quả khảo sát tổng hợp tại Phụ lục 2.1d thì 87% cho rằng thông tin KTQTCP cung cấp để phục vụ công việc điều hành lĩnh vực phụ trách là chưa tốt và 13% cho rằng tạm được. Điều này khẳng định các thông tin KTQTCP cung cấp chưa đáp ứng được yêu cầu của những người quản lý ở cấp trung, thực hiện quản trị điều hành quản lý và ở cấp cao và quản trị điều hành chiến lược. Nội dung này cũng thể hiện rõ ở Bảng tổng hợp kết quả khảo sát phụ lục 2.1d về nhu cầu thông tin cung cấp qua báo cáo. Cụ thể báo cáo chi phí theo bộ phận 60%; báo cáo giá thành toàn bộ 67%; báo cáo chi phí theo hoạt động 100%; báo cáo chi phí theo đơn đặt hàng 20%; báo cáo chi phí QLDN và CPBH 100%; Báo cáo giá thành sản phẩm 100%.

Theo kết quả khảo sát những nhân viên trực tiếp làm làm kế toán đã có những báo cáo được lập tại công ty là:

+ Báo cáo dự toán chi phí đã lập: theo phân xưởng 40%,  theo bộ phận kinh doanh 40%;

+ Những Báo cáo tình hình chi phí thực hiện: theo phân xưởng 100%, theo bộ phận bán hàng 100% và theo bộ phận quản lý 100%;

+ Báo cáo giá thành sản phẩm đã lập 100%;

+ Phân tích các báo cáo quản trị chi phí: việc phân tích chi phí các công ty sản xuất xi măng ít nhiều đều đã thực hiện. Tuy nhiên việc lập báo cáo chênh lệch chi phí mới tập trung ở một số công ty sản xuất xi măng có quy mô lớn chiếm 40%, trong đó báo cáo chênh lệch chi phí NVLTT là 40%, báo cáo chênh lệch NCTT là 40% và báo cáo chênh lệch khác là 20%.