Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các Công ty lâm nghiệp Việt Nam

Các công ty lâm nghiệp được thành lập để đảm nhận nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực lâm nghiệp.

Cùng với quá trình phát triển của đất nước, các CTLN ở nước ta có một lịch sử ra đời và phát triển qua nhiều giai đoạn, liên tục được đổi mới và hoàn thiện để phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế trong mỗi giai đoạn cụ thể.

Tiền thân của các CTLN là các LTQD, là một tổ chức kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp.

Lịch sử phát triển của các CTLN nước ta có thể được chia thành các giai đoạn chính như sau:

Giai đoạn từ năm 1958 đến 1975:

Từ năm 1958, các LTQD bắt đầu được thành lập ở Việt Nam. Tính đến năm 1975, trên miền Bắc có 198 LTQD ở tất cả các tỉnh thành.

Trong giai đoạn này, với đặc thù là nền kinh tế hoạt động trong điều kiện thời chiến, các LTQD được giao nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các kế hoạch khai thác gỗ và lâm sản phục vụ cho nhu cầu của chiến trường, đảm bảo đời sống nhân dân và phát triển kinh tế của đất nước.

Các LTQD thời kỳ này đã có những đóng góp hết sức quan trọng vào sự nghiệp kháng chiến cứu nước, chi viện cho chiến trường và xây dựng, phát triển kinh tế xã hội ở miền Bắc XHCN [ 1 ].

Giai đoạn 1976 đến 2003:

Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, các LTQD tiếp tục được thành lập và phát triển mạnh ở các tỉnh miền Nam. Các LTQD trong giai đoạn này đã được tổ chức quản lý theo cơ chế được đổi mới hơn so với trước đây theo mô hình các Xí nghiệp lâm nghiệp, bên cạnh nhiệm vụ khai thác gỗ và lâm sản, các LTQD cũng được giao nhiệm vụ trồng rừng và tổ chức hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội cho dân cư các vùng nông thôn miền núi. Về cơ chế quản lý, các LTQD đã được giao quyền tự chủ rộng hơn trong tổ chức sản xuất kinh doanh, tuy nhiên đặc điểm chủ đạo vẫn là hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Tính đến năm 1990, trên cả nước đã có 413 LTQD, trong có 76 LTQD trực thuộc trung ương, 199 LTQD trực thuộc cấp tỉnh và 138 LTQD trực thuộc cấp huyện, đã xuất hiện các hình thức tổ chức mới trong lâm nghiệp như các Liên hiệp xí nghiệp lâm công nghiệp, Liên hiệp xí nghiệp lâm nghiệp… ở các vùng trọng điểm về phát triển kinh tế lâm nghiệp [1].

Giai đoạn 2003 đến 2013:

Năm 2003 đánh dấu một bước chuyển đổi quan trọng trong tổ chức quản lý các LTQD. Ngày 10 tháng 6 năm 2003 Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng Khoá IX đã ban hành Nghị quyết số 28/NQ-TW về chủ trương sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, LTQD. Theo đó nông, lâm trường phải nâng cao hiệu quả sử dụng bền vững tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng; hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung chuyên canh, thâm canh quy mô lớn gắn chế biến với thị trường tiêu thụ; tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân bổ lại dân cư; tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, bảo vệ môi trường sinh thái và góp phầm xoá đói, giảm nghèo; làm điểm tựa cho phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh. Đổi mới nông, lâm trường phải gắn với đổi mới về cơ chế quản lý theo hướng phân biệt rõ nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và nhiệm vụ công ích.

Thực hiện tinh thần chỉ đạo của Bộ chính trị, Chính phủ đã ban hành ngày Nghị định số 200/2004/NĐ-CP về đổi mới tổ chức quản lý các LTQD vơi những giải pháp cụ thể như sau:

  • Những lâm trường đang quản lý chủ yếu là rừng trồng và đất quy hoạch để trồng rừng sản xuất và quản lý rừng sản xuất chủ yếu là rừng tự nhiên có quy mô diện tích tập trung thì tổ chức lại thành các Công ty lâm nghiệp theo phương án sản xuất, kinh doanh khép kín từ trồng, chăm sóc bảo vệ, phát triển rừng, khai thác gắn với chế biến và tiêu thụ lâm sản.
  • Những lâm trường đang quản lý chủ yếu là rừng phòng hộ có diện tích từ 000 ha trở lên, rừng đặc dụng có diện tích từ 1.000 ha trở lên thì chuyển thành Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý rừng đặc dụng hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp có thu.
  • Những lâm trường đang quản lý diện tích đất nhỏ (dưới 1.000ha), phân bố xen kẽ, gần khu dân cư thì rà soát điều chỉnh lại quy mô diện tích phù hợp và chuyển thành đơn vị sự nghiệp có thu, làm dịch vụ sản xuất cây giống, xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân trong vùng.
  • Diện tích rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghèo kiệt, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng nhỏ, phân tán; diện tích đất hoang hoá và đất khác, đất sử dụng không có hiệu quả của lâm trường trong những loại rừng nêu trên, thì chính quyền địa phương thu hồi để giao, cho thuê cho các đối tượng theo quy định của pháp luật đất đai và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
  • Giải thể đối với những LTQD kinh doanh thua lỗ liên tục 3 năm trở lên, trả lại đất lâm nghiệp cho chính quyền địa phương để giao hoặc cho thuê đối với các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng vào sản xuất kinh doanh lâm nghiệp.
  • Thực hiện thí điểm cổ phần hoá các lâm trường kinh doanh rừng trồng có điều kiện sản xuất tương đối thuận lợi, gần các khu trung tâm kinh tế, lâm trường có ít lao động đồng bào dân tộc thiểu số.

Sau khi thực hiện sắp xếp đổi mới theo Nghị định số 200/2004/NĐ-CP, các LTQD chính thức được đổi thành các Công ty lâm nghiệp (CTLN), bao gồm 2 hình thức chính:

  • Các CTLN mà Nhà nước vẫn sở hữu 100% vốn được chuyển sang mô hình Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoạt động theo Luật DN.
  • Các CTLN thực hiện cổ phần hoá cơ sở chế biến nông, lâm sản, thương mại, dịch vụ được chuyển thành Công ty cổ phần, từng bước thực hiện bán cổ phần cho người sản xuất nguyên liệu, thí điểm cổ phần hoá rừng trồng.

Các CTLN được áp dụng các hình thức khoán kinh doanh rừng và đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để bảo vệ, trồng và khai thác rừng theo quy định của pháp luật.

Một số LTQD đang quản lý nhiều rừng phòng hộ, đặc dụng được chuyển đổi thành các Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp có thu. Các ban quản lý rừng có thể được giao làm chủ dự án khoán bảo vệ, phục hồi rừng, dự án xoá đói, giảm nghèo do ngân sách tài trợ để hỗ trợ bảo vệ rừng.

Kết quả, các LTQD đã được sắp xếp tổ chức lại như sau:

– Có 139 LTQD được chuyển đổi thành Công ty TNHH một thành viên, trong đó có 8 tổng công ty, công ty trực thuộc Trung ương và 131 công ty trực thuộc các tỉnh.

– Có 3 Công ty cổ phần chuyên kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và dịch vụ lâm nghiệp.

– Có 7 LTQD được sát nhập vào Tập đoàn Cao su Việt Nam và chuyển sang hoạt động sản xuất nông nghiệp.

– Có 91 LTQD được chuyển thành Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng.

– Có 14 LTQD bị giải thể, bàn giao đất đai, tài nguyên và tài sản cho các địa phương quản lý

Việc sắp xếp, đổi mới các CTLN được thực hiện qua các hình thức sau:

(i) Duy trì, củng cố và phát triển những CTLN Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ tại khi có đủ điều kiện: (1) hoạt động tại các địa bàn chiến lược, vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; (2) có diện tích rừng sản xuất là rừng tự nhiên thuộc loại giàu và trung bình từ 70% diện tích đất được giao.

(ii) Chuyển CTLN thành công ty cổ phần, trong đó Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối nếu CTLN có diện tích rừng sản xuất là rừng trồng và đất quy hoạch trồng rừng sản xuất từ 70% diện tích đất được giao trở lên tại các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa gắn với quốc phòng, an ninh. Những CTLN khác không thuộc đối tượng này thì chuyển thành công ty cổ phần Nhà nước không giữ cổ phần chi phối hoặc không nắm giữ cổ phần.

(iii) Thành lập các công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

(iv) Giải thể những công ty kinh doanh thua lỗ ba năm liên tiếp và có số lỗ lũy kế bằng 3/4 vốn nhà nước tại công ty trở lên; công ty có quy mô diện tích dưới 100 ha.

Kết quả thực hiện chủ trương sắp xếp đổi mới các CTLN tính đến 31/12/2017 như sau:

+ Có 29 Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp tái cơ cấu, duy trì mô hình Công ty TNHHMTV 100% vốn nhà nước thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh.

+ Có 60 Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp tái cơ cấu, duy trì mô hình Công ty TNHHMTV 100% vốn Nhà nước thực hiện nhiệm vụ sản xuất cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích    .

+ Có 31 Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp chuyển thành công ty cổ phần.

+ Có 19 Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp chuyển thành Công ty TNHH hai thành viên trở lên.

+ Có 16 Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp thực hiện giải thể (12 công ty nông nghiệp, 16 công ty lâm nghiệp).

+ Có 05 Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp chuyển thành Ban quản lý rừng hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp có thu [3].

Như vậy, hiện nay cả nước hiện nay có 139 công ty lâm nghiệp, trong đó có 60 CTLN thuộc loại hình Công ty TNHH MTV LN 100% vốn Nhà nước làm nhiệm vụ công ích, chiếm tới 53% số CTLN cả nước.

Tình hình các CTLN phân theo loại hình DN được nêu trên bảng 2.1

Các CTLN nêu trên hiện tồn tại dưới các hình thức tổ chức sau đây:

– Các CTLN trực thuộc trung ương, là công ty con của các Tổng công ty, gồm:

+ Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam: 9 công ty

+ Tổng công ty Giấy Việt Nam: 17 công ty

– Các CTLN độc lập trực thuộc tỉnh: 87 công ty.

Các CTLN hiện nay đang quản lý sử dụng 1.852.699,26 ha đất, bình quân mỗi công ty có 16.395,57 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 94,62%.

Diện tích và cơ cấu đât đai hiện do các CTLN đang quản lý sử dụng được nêu trên bảng 2.2.

Căn cứ vào quy mô vốn và lao động của các công ty lâm nghiệp bao gồm:  các công ty lâm nghiệp nhỏ với quy mô tổng nguồn vốn trên 20 tỷ dồng và lao động dưới 100 người; Công ty lâm nghiệp vừa với tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng đến dưới 100 tỷ đồng; Công ty lâm nghiệp lớn với tổng nguồn vốn trên 100 tỷ hoặc lao động trên 200 người. Các Công ty lâm nghiệp được phân loại theo Biểu số 2.3: Phân loại theo quy mô vốn và lao động.

Hoạt động của các CTLN trong những năm gần đây đã có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp, đảm bảo nhu cầu về gỗ và lâm sản cho nền kinh tế, bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội tại các vùng nông thôn miền núi, góp phần ổn định xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh.

Bên cạnh đó, các CTLN cũng đang gặp nhiều khó khăn, tồn tại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình như: hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp, nhiều CTLN làm ăn thua lỗ, thu nhập của người lao động chưa cao, còn xảy ra khá phổ biến tình trạng thất thoát tài nguyên rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên, đất đai bị xâm lấn… Nguyên nhân của tình trạng này có nhiều, trong đó có các nguyên nhân như: năng lực quản trị, điều hành của các CTLN chưa đáp ứng được yêu cầu; nguồn vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật của các CTLN còn thiếu và nghèo nàn trong bối cảnh sức thu hút đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp rất thấp.