Thực trạng huy động vốn trong các Doanh nghiệp Nhà nước

1. Huy động vốn trong DN Nhà nước thời kì trước khi đổi mới:

Trong thời kì trước đổi mới, nền kinh tế nươcs ta mang nặng tính kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, do đó, việc huy động và sử dụng vốn mang đặc trưng là Nhà nước bao cấp vốn và bao cấp tín dụng. Nhà nước cấp phát vốn trực tiếp hoặc gián tiếp cho doanh nghiệp thông qua hệ thống ngân hàng trên cơ sở tính toán các nhu cầu vốn cần thiết để đảm bảo các chỉ tiêu pháp lệnh mà Nhà nước giao cho doanh nghiệp. Hoạt động huy động vốn và lưu thông vốn qua đại diện Ngân hàng Nhà nước đảm nhận đã dẫn tới tiêu cực, yếu kếm trong kinh doanh tiền tệ, không tạo lập được các thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường hối đoái… Điều đó đã dẫn tới không huy động được vốn nhàn rỗi trong nhân dân, không đa dạng hoá được các hình thức lưu thông, cung ứng vốn do đó, không đáp ứng được kịp thời, linh hoạt, thích hợp và có hiệu quả các nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

2. Huy động vốn trong DNNN từ khi tiến hành đổi mới đến nay:

Trong thời kì này, doanh nghiệp Nhà nước được giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, Nhà nước chỉ giao vốn ban đầu cho doanh nghiệp, doanh nghiệp phải tự xác định nhu cầu, khả năng đảm bảo và tự tiến hành huy động vốn cho doanh nghiệp.
Để đánh giá thực trạng huy động vốn ở doanh nghiệp Nhà nước hiện nay ta xem xét các vấn đề sau:

a) Các kết quả đạt được:

Sau khi tiến hành đổi mới, vốn từ các nguồn khác nhau đã được huy động vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với qui mô, tốc độ tăng nhanh qua các năm.Tính đến tháng1/1996, doanh nghiệp Nhà nước đã huy động được 279 375 tỷ đồng (doanh nghiệp Nhà nước TƯ huy động được 254160 tỷ, doanh nghiệp Nhà nước địa phhương 25215 tỷ) gấp hơn 4,1 lần vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy thì cứ có 1 đồng vốn thì doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta vay được trên 4,1 đồng; trong khi đó ở Nhật, các xí nghiệp có 1 đồng thì vay được 10 đồng. Nhiều quan sát viên phương Tây cho rằng tỉ lệ này chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro không lành mạnh so với phương Tây.

Thực tế cho thấy hiện nay ở Nhật bản đang bị khủng hoảng tài chính vì hàng loạt các công ty tài chính, Ngân hàng lớn bị sụp đổ do không thu hồi được các khoản nợ. ở các nước phương Tây, ngân hàng chỉ cho vay: 1 đồng vốn riêng chỉ vay được từ 2 đén 5 đồng. ở sài gòn thời kì 1970- 1975 các xí nghiệp tư nhân có 1 đông fvốn chỉ vay được khoảng 3 đồng ở Ngân hàng đầu tư và 2 đồng ở Ngân hàng thương mại. Như vậy, tỉ lệ vốn riêng/vốn vay thấp nhất là 1,5.

Như vậy, nếu so sánh với các chỉ tiêu này thì hiện nay, hiệu quả huy động vốn ở các doanh nghiệp Nhà nước là khá cao. Để huy động được lượng vốn này, các doanh nghiệp Nhà nước đã thực hiện các biện pháp chủ yếu sau:

– Huy động từ các nguồn tín dụng: đây là nguồn vốn huy động quan trọng nhất của các doanh nghiệp Nhà nước.
Tín dụng cung cấp cho các doanh nghiệp Nhà nước luôn chiếm tỉ trọng lớn nhất so với các thành phần kinh tế khác. Hiện nay, doanh nghiệp Nhà nước huy động được trên 50% tín dụng nội bộ và trên 70% tín dụng ngoại tệ từ các Ngân hàng thương mại.

– Huy động từ nguồn Ngân sách Nhà nước: Ngân sách Nhà nước là nguồn vốn quan trọng thứ hai đối với các doanh nghiệp Nhà nước. Ngân sách Nhà nước cấp vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước dưới dạng đầu tư XDCB, cấp vốn lưu động, bù lỗ, trợ giá… Mặc dù đang có số lượng giảm nhưng lượng vốn hàng năm cho doanh nghiệp Nhà nước là rất lớn. Năm 1994 bằng 0,5% GDP. Để giải quyết nhu cầu vốn cho doanh nghiệp Nhà nước, vừa qua Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ duyệt cấp them vốn lưu động cho các doanh nghiệp thành viên của một số Tôngr công ty.

– Để giải quyết nhu cầu vốn trong thời gian qua các doanh nghiệp đã vay nợ nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hoá trả chậm (L/C trả chậm) từ 2 tháng đến 2 năm. Trong năm 1996, lượng vốn huy động từ nguòn này khoảng trên 1 tỷ USD tương đương 11000 tỷ đồng. Ngoài ra, các doanh nghiệp Nhà nước còn áp dụng một số biện pháp khác như mua trả góp, tạm ứng, kiên doanh, kiên kết… qui mô nguồn này không đáng kể so với các nguồn trên.

Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp huy động vốn, nghị định 59/Cp ngày 03/10/1996 cho phép doanh nghiệp Nhà nước được quyên fhuy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu, vay vốn từ các tổ chức Tín dụng, các doanh nghiệp khác, các cá nhân (kể cả CBCNV trong doanh nghiệp), nhận góp vốn liên kết với các hìh thức khác nhưng không làm thay đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp Nhà nước.
Như vậy, ta thấy từ khi tiến hành đổi mới đến nay, hiệu quả hoạt động huy động vốn cao hơn so với thời kì trước; thể hiện ở chỗ: lượng vốn huy động được nhiều hơn và các hình thức huy động vốn phong phú hơn. Thành tựu đó do các nguyên nhân chủ yếu sau:

+Việc chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, doanh nghiệp được tự chủ sản xuất kinh doanh do đó tạo ra sự năng động sáng tạo cho hoạt động huy động vốn cho sản xuất kinh doanh.

+ Việc thành công trong cải cách cà ổn định kinh tế đã tạo ra tốc độ tăng trưởng nhanh và vững chắc, tích luỹ nội bộ của đất nước tăng nhanh. Do đó, các nguồn vốn huy động được của doanh nghiệp đã tăng nhanh về số lượng và qui mô, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp.

+ Mặc dù các thành phần kinh tế được khẳng định là bình đẳng với nhau nhưng thực tế thì doanh nghiệp Nhà nước còn được hưởng một số lợi thế so với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác như: được vay nhắn hạn với tỉ lệ lãi suất thấp, được hưởng tài trợ từ ngân sách, vay không cần phải thế chấp…

b) Những tồn tại trong hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp:

Mặc dù sau 10 năm đổi mới hoạt động huy động vốn ở doanh nghiệp
Nhà nước đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ, hoạt động huy động vốn trong doanh nghiệp Nhà nước còn một số vấn đề tồn tại sau:

Thứ nhất, hình thức huy động vốn chủ yếu là đi vay đã dẫn tới các hậu quả sau:

+ Công nợ của doanh nghiệp Nhà nước đã vượt xa mức bình thường của hoạt động kinh doanh và có nguy cơ mất khả năng thanh toán. Đối với nhiều doanh nghiệp Nhà nước, theo báo cáo của Tổng cục doanh nghiệp thì tổng số nợ phải thu của doanh nghiệp Nhà nước tính đến 31/12/1995 gấp 7 lần vốn lưu động của doanh nghiệp và bằng 38,4% tổng doanh thu năm 1995; nợ khó đòi và nợ khoanh lại (thực chất là nợ không có khả năng thu hồi) chiếm 46,1% vốn lưu động hiện có của doanh nghiệp. Tỏng số nợ phải trả của doanh nghiệp là 279376 tỷ đồng gấp 3 lần số nợ phải thu và bằng 4,1 lần số vốn kinh doanh của doanh nghiệp – số nợ này lớn hơn GDP năm 1996 (năm 1996, GDP của nước ta là 251000 tỷ đồng). Tổng số nợ của doanh nghiệp TƯ là 259160 tỷ đồng, bằng 3,2 lần nợ phải thu và bằng 5 lần vốn kinh doanh. Doanh nghiệp địa phương có số nợ là 25215 tỷ đồng, bằng 2,2 lần nợ ơhải thu và 1,4 lần vốn kinh doanh. Do công nợ quá lớn, hàng năm, doanh nghiệp Nhà nước phải dành một tỉ lệ doanh thu khá lớn trả lãi và nợ cho Ngân hàng, do đó, làm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp rất thấp. Năm 1995, tỷ lệ lợi nhuận/vốn là 19,3% trong khi đó lãi suất tín phiếu kho bạc Nhà nước là 21%.

+ Do chủ yếu vay vốn ở ngân hàng dẫn đến việc cung cấp vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp bị phụ thuộc vào ngân hàng. Biểu hiện ở chỗ ngân hàng có loại vốn nào thì vay được loại vốn đó; có vốn ngắn hạn thì vay được vốn ngắn hạn, có vốn dài hạn thì vay được vốn dài hạn. Khi nào mà các điều kiện cho vay dễ dàng thì vay được nhiều, khi nào điều kiện cho vay khó khăn thì doanh nghiệp thiếu vốn trầm trọng vì không vay được vốn. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu lí giải cho tình trạng thiếu vốn trầm trọng ở các doanh nghiệp Nhà nước trong năm 1996. Do phụ thuộc vào ngân hàng nên doanh nghiệp không xây dựng được một cơ cấu vốn tối ưu với chi phí vốn rẻ nhất mà phải chấp nhận mức lãi suất do ngân hàng đưa ra. Mức lãi suất này thường khá cao.

Thứ hai: Tốc độ gia tăng vốn huy động cho doanh nghiệp

Nhà nước giảm dần do tốc độ gia tăng của hai nguồn vốn chủ yếu là vốn tín dụng và vốn Ngân sách Nhà nước bị giảm mạnh.
+ Tốc độ gia tăng của tín dụng nội tệ giảm từ 36,48% năm 1992 xuống còn 18,2% năm 1994.
+ Tốc độ gia tăng của vốn tín dụng nội tệ giảm từ 116,12% năm 1992 xuống còn 34,07% năm 1994.

Đối với nguòn vốn từ Ngân sách Nhà nước cấp cho doanh nghiệp Nhà nước bị giảm từ 8,5% GDP năm 1988 đến năm 1994 là 0,5% GDP.
Ta thấy một vấn đề rất mâu thuẫn là trong khi tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nước ta tăng với tốc độ cao, thì hoạt động sản xuất kinh doanh của cá doanh nghiệp cũng tăng nhanh, do đó nhu cầu vốn của doanh nghiệp cũng tăng nhanh để bảo đảm yêu cầu tăng trưởng, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì tốc độ gia tăng lượng vốn huy động để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lại bị giảm. Qua đó, ta thấy rằng hiệu quả huy động vốn ngày càng giảm, doanh nghiệp ngày càng thiếu vốn trầm trọng.

Thứ ba, trong cơ cấu của vốn huy động được thì chủ yếu là vốn ngắn hạn, chưa đáp ứng được nhu cầu vốn dài hạn để đổi mới dây chuyền công nghệ, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp Nhà nước.

Nguyên nhân: các hình thức huy động vốn dài hạn như thuê tài chính, phát hành cổ phiếu, trái phiếu… chưa được áp dụng rộng rãi ở nước ta. Doanh nghiệp phải huy động vốn bằng cách vay ngân hàng nhưng ngân hàng dư thừa vốn ngắn hạn nhưng thiếu vốn dài hạn.
Tóm lại: trong 10 năm thực hiện đổi mới, hoạt động huy động vốn của các doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta đã đạt được một số thành tựu đáng kể. Nhưng bên cạnh đó còn một số vấn đề tồn tại như các hình thức huy động vốn chưa được đa dạng hoá, chủ yếu vốn để kinh doanh, chưa xây dựng được cơ cấu vốn tối ưu, chi phí vốn cao, mới đáp ứng được một phần nhu cầu vốn ngắn hạn, chưa đáp ứng được nhu cầu vốn dài hạn… Những nguyên nhân đó dẫn đến tình trạng doanh nghiệp n bị thiếu vốn trầm trọng trong những năm qua. Vấn đề đặt ra là phải khắc phục được những tồn tại này để thúc đẩy doanh nghiệp Nhà nước phát triển, xứng đáng với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nước ta.