Thực trạng kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại

1. Về mặt số lượng

- Sè hé kinh doanh cá thể, buôn bán nhỏ:

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ kinh tế cá thể, tiểu chủ là một trong 5 thành phần kinh tế của nước ta và có vị trí quan trọng lâu dài; Nhà nước luôn tạo điều kiện và giúp đỡ thành phần kinh tế này phát triển. Trong những năm qua với chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, kinh tế cá thể, tiểu chủ ở thành phố Đà Nẵng đã có những đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng  kinh tế của thành phố.

Năm 2001, sè  hộ đăng ký kinh doanh là 18.339 hộ, với tổng số vốn đăng ký kinh doanh là 313,2 tỉ đồng, vốn bình quân mỗi hộ là 17,08 triệu đồng/hộ; năm 2003, có 24.209 hộ (tăng 34,3% so với năm 2001), với tổng số vốn đăng ký kinh doanh là 499,2 tỉ đồng; năm 2005, số hộ đăng ký kinh doanh là 28.453 hé  (tăng 15% so với năm 2003), với tổng số vốn đăng ký kinh doanh là 548,1 tỉ đồng, vốn kinh doanh bình quân mỗi hộ là 19, 26 triệu đồng/ hé. Trong tổng số hộ kinh doanh cá thể, thì số hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ chiếm 66,6%, tiểu thủ công nghiệp chiếm 7,6% (bảng 2.1).

Số lượng lao động làm việc trong hé kinh doanh cá thể năm 2001 có 22.670 người; năm 2003 có 34.151 người; năm 2005 có 42.357 người, tăng 10.216 người = 31,8% so với năm 2004.  Hé kinh tế cá thể từ năm 2001 đến năm 2005 bình quân mỗi năm tăng trên 2.000 hộ và số vốn đăng ký kinh doanh bình quân mỗi năm tăng 46,973 tỉ đồng = 15%

2. Về mặt mạng lưới kinh doanh

Theo số liệu của Sở Thương mại thành phố Đà Nẵng, hiện nay thành phố có 93 chợ  và 03 siêu thị (trong đó quận Hải Châu 22 chợ, quận Thanh Khê 18 chợ, quận Liên Chiểu 7 chợ, quận Sơn Trà 10 chợ, quận Ngò Hành Sơn 5 chợ, quận Cẩm Lệ 9 chợ và huyện Hoà Vang 22 chợ), với tổng diện tích đất là 499.000mvàtổng vốn đầu tư là 1.099 tỉ đồng [33].

Số hé kinh doanh tại các chợ là 5.719 hộ. Năm 2004, nép ngân sách cho Nhà nước là 6,037 tỉ đồng, đạt 105% so với kế hoạch ;  năm 2005, nép ngân sách cho Nhà nước là 7,023 tỉ đồng, đạt 112,2% so với kế hoạch [33].

Theo kế hoạch của Sở Thương mại giai đoạn 2006-2010 sẽ tiếp tục xây dựng lại các chợ lớn như chợ Cồn, chợ Hàn, chợ Mới. Nâng cấp, sửa chữa các chợ xuống cấp như chợ Đống Đa, chợ Hoà Khánh vv…Đồng thời thành lập  8 trung tâm thương mại và thêm 7 siêu thị để đáp ứng nhu cầu hiện nay và là Trung tâm thương mại, du lịch, dịch vụ lớn của cả nước.

Trong những năm gần đây thương mại của thành phố Đà Nẵng đã phát triển nhanh và khá toàn diện, tiếp cận nhanh với cơ chế thị trường, nhiều mô hình tổ chức kinh doanh hiện đại như siêu thị và các cửa hàng, cửa hiệu tự chọn đã xuất hiện, văn minh thương mại ngày càng được phát triển, chủng loại hàng hoá đa dạng, phong phú có chất lượng cao. Đầu tư nâng cấp, cải tạo, xây dựng mới hàng chục chợ với tổng số vốn hàng trăm tỉ đồng, tạo thêm cho bộ mặt thành phè  đẹp hơn, giàu có hơn. Đà Nẵng là trung tâm khu vực, giao thông thuận lợi, lượng khách vãng lai đông, nên tổng mức bán lẻ hàng hoá luôn có tỉ lệ cao so GDP (mặc dù chi tiêu dùng của chính người dân Đà Nẵng còn ở tỉ lệ khiêm tốn). Ngành thương mại trong thời gian qua đã đóng góp tích cực, tạo điều kiện thông thoáng, giao lưu giữa thị trường mua bán –sản xuất- xuất nhập khẩu. Thị trường xuất khẩu được mở rộng, hàng xuất khẩu qua chế biến chiếm tỉ trọng tăng dần, kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, nhập siêu giảm dần.

Các dịch vụ như thương mại, du lịch, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, vận tải vv…phát triển nhanh, như thương mại điện tử, dịch vụ quảng bá thương hiệu, tiếp thị sản phẩm mới…., các thành phần kinh tế đều tham gia hoạt động. Mạng lưới kinh doanh được phân bổ khắp trong 7 quận, huyện, hàng trăm cửa hàng, nhiều khu chợ mọc lên và được xây dựng khang trang, cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư tốt hơn.

3. Về mặt doanh thu và đóng góp cho ngân sách

3.1. Doanh thu của doanh nghiệp khu vực tư nhân

Năm 2005, tổng doanh thu của khu vực tư nhân đạt 12.988,024 tỉ đồng (tăng 30,5% so với năm 2004), riêng doanh thu ở lĩnh vực thương mại đạt 8.679,201 tỉ đồng, chiếm 66,8% so với tổng doanh thu của khu vực tư nhân. Trong đó, doanh nghiệp tập thể đạt  161,145 tỉ đồng, chiếm 1,85% so với doanh thu trong lĩnh vực thương mại; doanh nghiệp tư nhân đạt 1.420,064 tỉ đồng, chiếm 16,36% so với tổng doanh thu trong lĩnh vực thương mại; công ty TNHH đạt 6.576,559 tỉ đồng, chiếm 69.76% so với doanh thu trong lĩnh vực thương mại; công ty cổ phần đạt 1.043,219 tỉ đồng, chiếm 12% so với doanh thu trong lĩnh vực thương mại. Cụ thể  như sau:

- Về bán hàng, sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy: Năm 2005, doanh thu đạt 1.486,369 tỉ đồng (tăng 4,8% so với năm 2004), chiếm  17,1% so với tổng doanh thu ở lĩnh vực thương mại. Trong đó, doanh nghiệp tập thể đạt 16,736 tỉ đồng, chiếm 1,1% so với doanh thu của bán hàng, sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy; doanh nghiệp tư nhân đạt 199,530 tỉ đồng, chiếm 13,4%; công ty TNHH đạt 1.224,581 tỉ đồng, chiếm 82,38%; công ty cổ phần đạt  45,522 tỉ đồng, chiếm 3,06%.

- Về bán buôn và bán đại lý: Năm 2005, doanh thu đạt 5.465,923 tỉ đồng (tăng 23,4% so với năm 2004), chiếm  62,97% so với tổng doanh thu ở lĩnh vực thương mại. Trong đó, doanh nghiệp tập thể đạt 123,275 tỉ đồng, chiếm 2,25% so với doanh thu của bán buôn và bán đại lý; doanh nghiệp tư nhân đạt 445,659 tỉ đồng, chiếm 8,15%; công ty TNHH đạt 4.021,680 tỉ đồng, chiếm 73.57%; công ty cổ phần đạt  875,309 tỉ đồng, chiếm 16,01%.

- Về bán lẻ, sửa chữa đồ dùng cá nhân và gia đình: Năm 2005, doanh thu  đạt 1.639,477 tỉ đồng (tăng 21,79% so với năm 2004), chiếm  18,88% so với tổng doanh thu ở lĩnh vực thương mại. Trong đó, doanh nghiệp tập thể đạt 11,144 tỉ đồng, chiếm 0,67% so với doanh thu của bán lẻ, sửa chữa đồ dùng cá nhân và gia đình; doanh nghiệp tư nhân đạt 744,581 tỉ đồng, chiếm 45,41%; công ty TNHH đạt 774,264 tỉ đồng, chiếm 47,22%; công ty cổ phần đạt  109,488 tỉ đồng, chiếm 6,67%.

- Về dịch vụ khách sạn và nhà hàng: Năm 2005, doanh thu đạt 87,432 tỉ đồng (tăng 32,89% so với năm 2004), chiếm 1% so với tổng doanh thu ở lĩnh vực thương mại. Trong đó, doanh nghiệp tập thể đạt 9,990 tỉ đồng, chiếm 11,42% so với doanh thu của dịch vụ khách sạn và nhà hàng; doanh nghiệp tư nhân đạt 30,294 tỉ đồng, chiếm 34,64%; công ty TNHH đạt 34,248 tỉ đồng, chiếm 39,17%; công ty cổ phần đạt  12,9 tỉ đồng, chiếm 14,75%.

         3.2. Đóng góp nguồn thu ngày càng lớn vào ngân sách Nhà nước

Trong lĩnh vực thương mại  kinh tế tư nhân ở Đà Nẵng đóng góp cho ngân sách Nhà nước ngày càng lớn.  Năm 2005, tổng số thuế nép là 159,6 tỉ đồng (chiếm 58,1% trong tổng số thuế của khu vực tư nhân), trong đó: bán hàng, sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy thu nép ngân sách cho nhà nước là 9,7 tỉ đồng, chiếm 3,5% trong tổng số thu thuế của khu vực tư nhân; bán buôn và đại lý nép ngân sách là 125,3 tỉ đồng, chiếm 45,6%; bán lẻ và sửa chữa đồ dùng cá nhân nép ngân sách là 16,5%, chiếm 6%; dịch vụ khách sạn, nhà hàng nép ngân sách là 8,1 tỉ đồng, chiếm 2,95%.

Với sự đóng góp vào ngân sách ngày càng tăng, kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại nói riêng và kinh tế tư nhân nói chung đã có vai trò quan trọng trong việc đóng góp vào nguồn thu ngân sách nhà nước, nâng cao đời sống nhân dân, xoá dói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, góp phần củng cố an ninh-quốc phòng. Tuy nhiên, bên cạnh đó công tác quản lý thuế nhìn chung vẫn chưa theo kịp, do đối tượng phải nép thuế quá nhiều, trải rộng khắp địa bàn; do nhận thức của đối tượng kinh doanh và năng lực quản lý của ngành thuế, cần lưu ý là  gần 70% doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ trực tiếp cung cấp cho đối tượng tiêu dùng (không cần lấy hoá đơn) nên việc quản lý thuế hết sức phức tạp. Qua báo cáo của Cục Thuế thành phố năm 2005, trên 93% sè doanh nghiệp ở khu vực tư nhân có kê khai thuế giá trị gia tăng, trên 95% số đã kê khai tạm nép thuế quyết toán đúng thời gian quy định. Dự báo trong những năm tới kinh tế tư nhân phát triển với tốc độ nhanh cả về quy mô và đối tượng kinh doanh; hình thức kinh doanh ngày càng đa dạng, nhất là hình thức liên doanh, liên kết giữa các thành phần kinh tế; trong và ngoài nước hình thành các tập đoàn kinh tế hoạt động trong nhiều lĩnh vực, nhiều quốc gia, đây là điều kiện để tăng thu ngân sách cho thành phố, nhưng cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức mới cho công tác thu thuế. Một mặt, phải thu đúng, thu đủ công bằng giữa các thành phần kinh tế; mặt khác, không cản trở sự phát triển năng động của khu vực kinh tế tư nhân mà phải hỗ trợ tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển.

          3.3. Về cơ cấu chia theo loại hình doanh nghiệp năm 2005

Cơ cấu của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại được thể hiện trong các số liệu sau:

Lĩnh vực bán, sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy : có 238 doanh nghiệp, chiếm 9,4% so với tổng số doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thương mại. Trong đó, doanh nghiệp tập thể có 4 doanh nghiệp, chiếm 1,68% so với số doanh nghiệp kinh doanh trong bán, sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy; doanh nghiệp tư nhân có 89 doanh nghiệp, chiếm 37,4%; công ty TNHH có 138 doanh nghiệp, chiếm 58%; công ty cổ phần có 7 doanh nghiệp, chiếm 2,9%.

- Lĩnh vực bán buôn và bán đại lý: có 964 doanh nghiệp, chiếm 38,26% so với tổng số doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thương mại. Trong đó, doanh nghiệp tập thể có 10 doanh nghiệp, chiếm 1,03% so với số doanh nghiệp kinh doanh trong bán buôn và bán đại lý; doanh nghiệp tư nhân có 234 doanh nghiệp, chiếm 24,3%; công ty TNHH có 607 doanh nghiệp, chiếm 24%; công ty cổ phần có 113 doanh nghiệp, chiếm 4,5%.

- Lĩnh vực bán lẻ, sửa chữa đồ dùng cá nhân và gia đình: Có 1.126 doanh nghiệp, chiếm 44,7% so với tổng số doanh nghiệp kinh doanh ở lĩnh vực thương mại. Trong đó, doanh nghiệp tập thể có 14 doanh nghiệp, chiếm 1,2% so với số doanh nghiệp kinh doanh trong bán lẻ, sửa chữa đồ dùng cá nhân và gia đình; doanh nghiệp tư nhân có 570 doanh nghiệp, chiếm 50,6%; công ty TNHH có 477 doanh nghiệp, chiếm 42,4%; công ty cổ phần có 65 doanh nghiệp, chiếm 5,8%.

Lĩnh vực dịch vụ khách sạn, nhà hàng: Có 191 doanh nghiệp, chiếm 7,6% so với tổng số doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thương mại. Trong đó, doanh nghiệp tập thể có 3 = 1,6% so với tổng số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ khách sạn, nhà hàng ; doanh nghiệp tư nhân có 79 doanh nghiệp, chiếm  41,4%; công ty TNHH có 60 doanh nghiệp, chiếm 31,4%; công ty cổ phần có 49 doanh nghiệp, chiếm 25,7%.

Như vậy, trong thương mại, loại hình kinh doanh bán lẻ và bán buôn chiếm tỉ lệ lớn, các loại hình sửa chữa, khách sạn, nhà hàng có tỉ lệ thấp hơn. Nguyên nhân là việc đầu tư vào các cửa hàng bán lẻ, bán buôn dễ dàng, thuận tiện hơn vì không đòi hỏi một lượng vốn lớn, xác định.

4.  Về đáp ứng nhu cầu sản xuất và  đời sống

4.1. Thóc đẩy tăng trưởng kinh tế 

Trong những năm qua khu vực kinh tế tư nhân nói chung và thương mại nói riêng của Đà Nẵng đã vươn lên trưởng thành và đóng góp 30% GDP. Năm 2001, tổng sản phẩm trong nước trên địa bàn (GDP),  thì kinh tế tư nhân đạt 1.783,4 tỉ – chiếm 31,3%; năm 2002, kinh tế tư nhân đạt 2.070,8 tỉ -chiếm 31,1%; năm 2003, kinh tế tư nhân đạt 2.274,1 tỉ -chiếm 29,3%; năm 2004, kinh tế tư nhân đạt 3.450,5 tỉ -chiếm 36,07%; năm 2005, kinh tế tư nhân đạt  4.292,3 tỉ đồng, chiếm 36,10 %. Tốc độ tăng GDP bình quân của cả thành phố trong 5 năm từ 2001-2005 là 12,67% thì tốc độ tăng GDP của khu vực kinh tế tư nhân tăng là 9,69%. Kinh tế tư nhân ở thành phố Đà Nẵng phát triển nhanh không những về số lượng mà còn không ngừng đa dạng hoá các ngành nghề kinh doanh, thích ứng với nhu cầu thị trường. Tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trên thị trường, nhiều việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động, góp phần làm tăng giá trị tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, có thể nêu cụ thể theo từng loại như sau:

. Hoạt động kinh doanh của các hộ thương mại tư nhân phát triển với tốc độ nhanh, lực lượng tiểu thương, buôn bán nhỏ về cơ bản được hình thành tự phát, vì vậy tính ổn định và bền vững kém. Họ có thể chuyển đổi cơ cấu hàng hoá kinh doanh, địa bàn kinh doanh, phương thức hoạt động cho đến khi có được lợi nhuận thoả đáng và  tập trung chủ yếu vào một số ngành hàng như bán lẻ ăn uống, lương thực, thực phẩm, hàng may mặc, xe gắn máy, khách sạn, nhà hàng vv…

Đối với bộ phận kinh tế này địa bàn hoạt động khắp mọi nơi ở thị trường nội địa, họ đi vào ngóc ngách, hẻm phố, đường làng khi ở đó thấy có lợi nhuận. Phương thức hoạt động của họ khá “mềm mỏng”, năng động và thích ứng với thị trường. Thị trường cần gì là họ đáp ứng cả về không gian, thời gian, địa điểm, mặt hàng… Người mua thanh toán theo hình thức nào họ đều chấp nhận, như thanh toán bàng tiền mặt, hàng đổi hàng, mua hàng trả chậm vv…Tuy nhiên, người buôn bán nhỏ kinh doanh không ổn định, gặp gì buôn bán nấy. Tóm lại hộ kinh doanh cá thể trong lĩnh vực thương mại có sức phát triển mạnh, sự phát triển của nó đã góp phần làm cho thị trường trở nên sôi động hơn và đáp ứng được phần nào trong tiêu dùng của nhân dân.

Như vậy, sự phát triển của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại không chỉ thúc đẩy kinh tế tăng trưởng mà còn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố theo hướng hiện đại, theo hướng công nghiệp- dịch vụ- nông nghiệp từ năm 1997 đến nay đã có bước phát triển tích cực, theo định hướng cơ bản phất triển kinh tế-xã hội mà Nghị quyết đại hội Đảng bộ thành phố đã đề ra.

4.2. Về tổng mức bán hàng hoá và dịch vụ xã hội 

Năm 2005, toàn thành phố có 4.981 doanh nghiệp, với tổng số vốn đăng ký là 7.039,652 tỉ đồng, trong đó số doanh nghiệp ở lĩnh vực thương mại-dịch vô  là 3.395 doanh nghiệp, chiếm 68,15% (so với tổng số doanh nghiệp). Hình thức kinh doanh của các doanh nghiệp này ngày càng phong phú, đa dạng, cung cấp nhiều hàng hoá không những cho thành phố Đà Nẵng và mà cả miền Trung-Tây Nguyên.

Tổng mức bán hàng hoá và dịch vụ xã hội  năm 2001, của khu vực tư nhân đạt 5.836 tỉ đồng, chiếm 30,2% so với tổng mức bán hàng hoá và dịch vụ của thành phố; năm 2002 của khu vực tư nhân đạt 6.280 tỉ đồng, chiếm 30,75 % so với tổng mức bán hàng hoá và dịch vụ của thành phố, tăng 7% so với năm 2001; năm 2003 của khu vực tư nhân đạt 8.734 tỉ đồng, chiếm 38,1% so với tổng mức bán hàng hoá và dịch vụ của thành phố, tăng 28% so với năm 2002; năm 2004 của khu vực tư nhân đạt 10.189 tỉ đồng, chiếm 38,5% so với tổng mức bán hàng hoá và dịch vụ của thành phố, tăng 13,4% so với năm 2003; năm 2005 của khu vực tư nhân đạt 16.099 tỉ đồng, chiếm 49,9% so với tổng mức bán hàng hoá và dịch vụ của thành phố, tăng 37,3% so với năm 2004.

Cùng với  các thành phần kinh tế khác, hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại đã góp phần cân đối cung cầu tiền – hàng, ổn định giá cả thị trường và cải thiện đời sống nhân dân. Trong khâu bán buôn thương mại nhà nước luôn chiếm tỉ trọng lớn, tuy nhiên vài năm gần đây thương mại ở khu vực kinh tế tư nhân có xu hướng tăng lên nhanh. Năm 2001, thương mại nhà nước chiếm 67,36%, trong khi đó thương mại ở khu vực tư nhân chiếm 30,2%; năm 2003, thương mại nhà nước chiếm 60,88%, còn thương mại ở khu vực kinh tế tư nhân chiếm 38,1%; đến năm 2005, thương mại nhà nước chiếm 48,96%, còn thương mại ở khu vực kinh tế tư nhân chiếm 49,94%. Sù gia tăng đó là do: Một mặt, thương mại ở khu vực tư nhân đã được tham gia vào kinh doanh những mặt hàng mà trước đây chỉ có thương mại nhà nước được làm nhiệm vụ bán buôn như hàng cơ khí, điện tử, vật liệu xây dựng… Mặt khác, với khả năng về tiềm lực tài chính, trình độ tổ chức kinh doanh, chính sách của nhà nước thì thương mại ở khu vực kinh tế tư nhân đáp ứng được các yêu cầu đòi hỏi khi tham gia khâu bán buôn.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội của kinh tế tư nhân cũng tăng nhanh. Năm 2001, kinh tế tư nhân đạt 3.284 tỉ đồng, chiếm 69,94% so với tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ của thành phố; năm 2002 kinh tế tư nhân đạt 3.828 tỉ đồng, chiếm 70,7% so với tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ của thành phố, tăng 14,2% so với năm 2001; năm 2003 kinh tế tư nhân đạt 4.541 tỉ đồng, chiếm 69,5% so với tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ của thành phố, tăng 15,7% so với năm 2002; năm 2004 tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ đạt 4.765 tỉ đồng, chiếm 67,8%, tăng 4,7% so với năm 2003; năm 2005 tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ đạt 7.082 tỉ đồng, chiếm 74,1%, tăng 32,7% so với năm 2004.

Sự đóng góp của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại quyết định đến tốc độ tăng của tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ ở thành phố Đà Nẵng. Theo giá hiện hành, tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ của Đà Nẵng năm 2001 của kinh tế tư nhân là 3.284 tỉ đồng, chiếm 69,9% so với tổng mức hàng hoá bán lẻ của thành phố; trong khí đó khu vực kinh tế nhà nước đạt 1.318 tỉ đồng, chiếm 28%. Năm 2003, tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ của thành phố đạt 6.530 tỉ đồng, thì khu vực tư nhân đạt 4.541 tỉ đồng, chiếm 69,5%, tăng 15,7% so với năm 2002; trong khi đó khu vực kinh tế nhà nước đạt 1.841 tỉ đồng, chiếm 28,2%. Năm 2005, tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ của thành phố đạt 9.555 tỉ đồng, thì khu vực tư nhân đạt 7.082 tỉ đồng, chiếm 74,1%, tăng 32,7% so với năm 2004; trong khi đó khu vực kinh tế nhà nước đạt 2.260 tỉ đồng, chiếm 23,65%.Tính chung cả thời kỳ 2001-2005 tốc độ tăng bình quân hàng năm của tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ ở khu vực tư nhân là 43,1%, trong khi đó thì thương mại nhà nước tăng 34,3%.

Nhìn chung trong lĩnh vực thương mại, kinh tế tư nhân ở Đà Nẵng trong những năm qua phát triển nhanh so với các ngành khác, các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này thường tập trung vào các ngành hàng buôn bán tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, đại lý mua bán ký gửi, kinh doanh vàng bạc, xe máy, ăn uống vv…đây là ngành hàng có tỉ suất lợi nhuận cao và thu hồi vốn nhanh.  Một số doanh nghiệp cung cấp hàng nhu yếu phẩm như lương thực, thực phẩm, thức uống, hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng, xe gắn máy, ô tô có doanh thu lớn như Công ty TNHH Đà Nẵng Mễ Cốc có doanh thư 333,64 tỉ đồng, Công ty TNHH IDE, Công ty TNHH Sông Thương có doanh thu trên 14 tỉ đồng.

Các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân đã bắt đầu chú ý đến chất lượng, thương hiệu sản phẩm của mình. Điều đáng chú ý là trong lĩnh vực thương mại-dịch vụ trước đây, doanh nghiệp nhà nước nắm độc quyền trong kinh doanh xuất nhập khẩu, thì nay nhiều thương gia, nhiều doanh nghiệp tư nhân đã trở thành những công ty buôn bán lớn như Công ty TNHH  Đà Nẵng Mễ Cốc (thương mại- dịch vụ), Công ty TNHH  Minh Toàn (thương mại, dịch vụ, vận tải), Công ty TNHH  Nhật Linh (siêu thị, bàn ghế học sinh), Công ty TNHH  Tân Phát (ống nhựa), Công ty TNHH  Phước Tiến (thuỷ sản)… Những công ty này có mạng lưới kinh doanh khắp địa bàn trong nước và bắt đầu có uy tín trên thị trường quốc tế như Singapore, Đài Loan, Mỹ, Bắc Âu… hình thức thâm nhập thị trường đa dạng, phong phú, mở thêm nhiều mặt hàng mới như thủ công mỹ nghệ, giầy da, may mặc… Hiện nay có 58 sản phẩm của các doanh nghiệp được đăng ký bảo hé
công nghiệp.

Năm 2005, Hội Doanh nghiệp trẻ thành phố đã trao tặng “Cúp vàng Đà Nẵng” và UBND thành phố tặng bằng khen cho 6 thương hiệu và 7 sản phẩm của  12 doanh nghiệp; đồng thời có một số doanh nghiệp được nhận giải thưởng” Sao vàng Đất Việt năm 2005”, trong đó có Công ty TNHH Việt Tin, Công TNHH Minh Toàn, Công ty TNHH Nhật Linh, Công ty TNHH Tân Phát…

4.3. VÒ xuất nhập khẩu

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của kinh tế tư nhân nhìn chung có xu hướng tăng: Năm 2001, là 21,773 triệu USD, chiếm tỉ trọng 3,4% so với tổng kim ngạch XNK của thành phè ; năm 2002, là 21,181 triệu USD, chiếm tỉ trọng 3,3% so với tổng kim ngạch XNK của thành phố và giảm 0,1% so với năm 2001; năm 2003, là 28,6 triệu USD, chiếm tỉ trọng 4,5% so với tổng kim ngạch XNK của thành phố và tăng 1,2% so với năm 2002; năm 2004, là 36,292 triệu USD, chiếm tỉ trọng 5,4% so với tổng kim ngạch XNK của thành phố và tăng 0,9% so với năm 2003; năm 2005, là 40,981 triệu USD, chiếm tỉ trọng 6,1% so với tổng kim ngạch XNK của thành phố và tăng 0,7% so với năm 2004. Trong đó:

Về kim ngạch nhập khẩu kinh tế tư nhân cũng từng bước tăng lên:  Năm 2001, kim ngạch nhập khẩu của kinh tế tư nhân là 3,539 triệu USD, chiếm tỉ trọng 0,9% so vơi kim ngạch nhập khẩu của thành phè ; năm 2002, kim ngạch nhập khẩu của kinh tế tư nhân là 3,277 triệu USD, chiếm tỉ trọng 0,85% so vơi kim ngạch nhập khẩu của thành phố, giảm 0,05% so với năm 2001 ;  năm 2003, kim ngạch nhập khẩu của kinh tế tư nhân là 8,456 triệu USD, chiếm tỉ trọng 2,2% so với kim ngạch nhập khẩu của thành phố, tăng 61,2% so với năm 2002 ; năm 2004, kim ngạch nhập khẩu của kinh tế tư nhân là 11,672 triệu USD, chiếm tỉ trọng 3,2% so với kim ngạch nhập khẩu của thành phố, tăng 27,55% so với năm 2003 ; năm 2005, kim ngạch nhập khẩu của kinh tế tư nhân là 11,881 triệu USD, chiếm tỉ trọng 3,6% so với kim ngạch nhập khẩu của thành phố, tăng 1,75% so với năm 2004.

Về kim ngạch xuất khẩu kinh tế tư nhân có xu hướng tăng mạnh hơn:  Năm 1997, kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế tư nhân đạt 10,247 triệu USD; năm 2001 là 18,243 triệu USD, chiếm tỉ trọng 6,84%  kim ngạnh xuất khẩu của thành phố, tăng 43,8% so với năm 1997; năm 2002 đạt 17,904 triệu USD, chiếm tỉ trọng 7,2% so với  kim ngạch xuất khẩu của thành phố, giảm 1,8% so với năm 2001; năm 2003 là 20,144 triệu USD, chiếm 7,7% so với kim ngạch xuất khẩu của thành phố; năm 2004 là 24,620 triệu USD, chiếm 7,96% so với kim ngạch xuất khẩu của thành phố, tăng 18,2% so với năm 2003; năm 2005 là 29,1 triệu USD, chiếm 8,4% kim ngạnh xuất khẩu của thành phố và tăng 15,4% so với năm 2004.

Năm 2005, sè doanh nghiệp ở khu vực tư nhân tham gia vào lĩnh vực xuất nhập khẩu có 19 đơn vị, trong đó  Công ty TNHH = 14, Doanh nghiệp tư nhân = 4, Công ty cổ phần = 1. Các mặt hàng chủ yếu xuất khẩu trực tiếp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là cà phê, thủy sản, hàng nông sản, hàng dệt may, giày dép các loại, hàng thủ công mỹ nghệ, đồ chơi trẻ em vv..  Thành phố có chính sách khen thưởng cho các doanh nghiệp có thành tích cao trong xuất khẩu. Năm 2005,  5 doanh nghiệp tư nhân đã được thành phố khen thưởng. Một số doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu cao như Công ty TNHH Hoàng Bảo đạt 1,244 triệu USD, xuất khẩu gần 20 nước trên thế giới; Công ty TNHH Duy Thành (hàng thủ công Mỹ nghệ) đạt hơn 5,639 triệu USD, xuất khẩu trên 43 nước trên thế giới; Công ty TNHH  Phước Tiến (xuất khẩu thuỷ sản) đạt hơn 6,7 triệu USD, xuất khẩu nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, Nhật  vv….là những công ty tư nhân được thành phố khen thưởng.

4.4. Tạo việc làm và thu nhập cho người  lao động (Phụ lục 8)

Với dân số gần 800 nghìn người, mỗi năm thành phố có thêm hàng chục ngàn người đến tuổi lao động cần có việc làm. Đây là một con số không nhỏ tạo áp lực lớn cho các cấp, các ngành của thành phố Đà Nẵng. Giải quyết được vấn đề này không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế, mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị xã hội, tạo thế và lực cho kinh tế Đà Nẵng phát triển bền vững. Mặt khác, với tốc độ quá trình đô thị hoá thì số người trong lĩnh vực nông nghiệp không có đất để canh tác, sản xuất ngày càng một tăng lên tạo nên một áp lực lớn người lao động  không có việc làm trên địa bàn thành phố. Theo số liệu của Cục Thống kê Đà Nẵng, năm 2001 tỉ lệ thất nghiệp của thành phố Đà Nẵng là 5,54%, năm 2002 là 5,25, năm 2003 là 4,55, năm 2004 là 4,35%.

Trong những năm gần đây các doanh nghiệp nhà nước đang tiến hành cổ phần hoá, bán, khoán, cho thuê, giải thể và phá sản, thì sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân là nguồn thu hót ngày càng nhiều lao động của thành phố: Năm 2002, giải quyết 2.176 việc làm cho người lao động; năm 2003, giải quyết 8.450 việc làm cho người lao động, tăng gấp 3,9 lần so với năm 2002; năm 2004, giải quyết 11.583 việc làm cho người lao động, tăng gấp 1,4 lần so với năm 2003; năm 2005, giải quyết 12.097 việc làm cho người lao động, tăng 1,04 lần so với năm 2004.  Năm 2005, tổng số lao động ở doanh nghiệp khu vực tư nhân là 116.687 người, chiếm 30,3% so với tổng số lao động của cả thành phố Đà Nẵng. Trong  đó đáng chú ý là lao động trong lĩnh vực thương mại có 65.928 người, chiếm 56.5% so với số lao động làm trong doanh nghiệp ở khu vực tư nhân.

Đây là kết quả của việc phát triển đời sống kinh tế trọng cộng đồng dân cư  ngày càng tốt hơn, đồng đều hơn. Sự tăng trưởng nổi bật trong những năm gần đây đã tạo công ăn việc làm đều khắp tỷ lệ thất nghiệp (trong khu vực thành thị) giảm từ 6.00% trong năm 1997 xuống còn 4,35% trong năm 2004; tỷ lệ người thiếu việc làm (khu vực thành thị) giảm tương ứng từ 19,41% (năm 1997) xuống còn 12,79% trong năm 2002; đồng thời hệ số sử dụng thời gian lao động trong nông thôn cũng tăng từ 71,83% (năm 1997) lên 85.5% trong năm 2004. Thu nhập người dân cũng do đó mà khá lên, là nguồn lực chính để cải thiện đời sống, giảm phân hoá, cách biệt người giàu- người nghèo và giảm được các tệ nạn xã hội. Thu nhập bình quân hiện nay của người lao động là 700.000đ/người/tháng, mức cao nhất là 5.000.000 đ/người/tháng [6, tr.57].

5. Huy động các nguồn vốn trong xã hội   (Phụ lục 9 và 10)

Trong những năm qua số lượng doanh nghiệp ở khu vực tư nhân ngày càng gia tăng, phản ánh khả năng huy động vốn từ trong dân cư cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh ngày càng lớn.

Vốn đăng ký kinh doanh: Năm 2001, vốn đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh là 313,270 tỉ đồng, bình quân 17 triệu đồng/hộ;  năm 2003, vốn đăng ký kinh doanh của các hộ là 499,242 tỉ đồng, bình quân 21,9 triệu đồng/hộ; năm 2003, vốn đăng ký kinh doanh của các hộ là 548,132 tỉ đồng, bình quân 19,3 triệu đồng/hộ.

 Về vốn  đầu tư:  Năm 2001, vốn đầu tư của doanh nghiệp ở khu vực tư nhân là  917,35 tỉ đồng, chiếm 27,3% so với tổng vốn đầu tư của thành phố; năm 2004, vốn đầu tư của doanh nghiệp ở khu vực tư nhân là 1.443,9 tỉ đồng, chiếm 21,9%. Trong đó, đầu tư vào lĩnh vực thương mại là 116,9 tỉ đồng, chiếm 8,1% so với tổng vốn đầu tư của khu vực tư nhân.

Với tiềm nămg của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại, đã huy động được khối lượng vốn lớn đầu tư vào cho hoạt động kinh doanh, phát huy được các yếu tố nội lực của bản thân và ngày càng đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi từ thực tiễn kinh doanh của thị trường. Việc huy động được các nguồn vốn trong dân  tham gia vào hoạt động kinh doanh đã góp phần tăng sức sản xuất xã hội.

6. Thực trạng về tình hình quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp ở khu vực tư nhân

Về cải cách thủ tục hành chính: Thủ tục đăng ký kinh doanh mới cải thiện được ở khâu tiếp nhận theo mô hình “một cửa”, đơn giản hoá thủ tục trong đăng ký kinh doanh và một số khâu liên quan khác, như thành phố đã quy định thực hiện cấp giấy đăng ký kinh doanh  mới cho các doanh nghiệp ở khu vực tư nhân trong vòng 5 ngày xuống còn 3 ngày, cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư chỉ còn 10 ngày. Cục Hải quan thành phố tiếp nhận và cấp mã số XNK trong vòng 3 ngày; ngành Công an đăng ký mẫu dấu đối với doanh nghiệp từ 10 ngày xuống còn 7 ngày…

Thủ tục hành chính từ khi thực hiện Luật Doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ở khu vực kinh tế tư nhân nói chung đã được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, thời gian thực hiện các thủ tục hành chính vẫn còn nhiều bất cập, như thủ tục để doanh nghiệp gia nhập thị trường ở Đà Nẵng là 20 ngày vẫn còn cao hơn nhiều so với một số địa phương khác, việc hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp luật, bảo vệ quyền sở hữu tên doanh nghiệp, cung cấp thông tin, cấp giấy phép có điều kiện vv…chưa được cải thiện; nhiều quy định của thành phố còn mang nặng cơ chế “xin-cho”, như thuê đất, đấu thầu, giao đất, vay vốn tín dụng ưu đãi vv…còn mất nhiều thời gian và phức tạp; rào cản lớn nhất vẫn là trình độ cán bộ công chức chưa theo kịp quá trình đổi mới và yêu cầu phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế. Đồng chí Chủ tịch UBND thành phố phát biểu: “Một bộ phận đội ngò cán bộ của thành phố năng lực yếu, có nhiều mặt xấu như quan liêu, cửa quyền, nhòng nhiều, chậm thay đổi trong thời gian qua đã làm hạn chế sự phát triển của thành phố,làm giảm sức mạnh bộ máy hành chính” [2].

Việc quản lý nhà nước còn yếu kém, chưa phân rõ trách nhiệm giữa các ngành và quận huyện, hiệu quả triển khai thấp, hầu như mới chỉ thực hiện được ở ngành Thuế, Quản lý thị trường, Cục Thống kê.

Vấn đề “hậu kiểm” còn lúng túng trong triển khai thực hiện, đến nay vần chưa có một hướng dẫn cụ thể nào của Trung ương, từng địa phương tự đề ra quy định riêng, hiệu quả đem lại không cao, còn bỏ ngỏ nhiều lĩnh vực: xử lý không nép báo cáo, đăng ký khống về vốn, không góp đủ vốn của các thành viên trong công ty TNHH vv…; nguyên tắc công khai minh bạch trong quản lý, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các thông tin cụ thể, chính xác về các doanh nghiệp ở khu vực tư nhân hầu như chưa có cơ quan nào nắm được đầy đủ rõ ràng.

Trên địa bàn thành phố tình hình chấp hành các hợp đồng kinh tế của nhiều doanh nghiệp chưa nghiêm, việc xử lý tranh chấp hợp đồng chưa thực hiện nghiêm túc theo quy định của pháp luật. Thực tiễn trong thời gian qua ở Đà Nẵng cho thấy việc vi phạm hợp đồng, bội tín, không thực hiện trách nhiệm chi trả, thanh toán hay các cam kết khác trong hợp đồng là một trong những nguyên nhân làm cho tình hình tài chính của doanh nghiệp lâm vào tình trạng không lành mạnh, ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư. Các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan bảo vệ pháp luật gặp nhiều khó khăn, lúng túng và bất cập trong xử lý các hợp đồng kinh tế bị tranh chấp.

 


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • Xã Mễ Trì Xã Mễ Trì tsrc=appleww
  • ,