Thực trạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam

1. Thực trạng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Việc đánh giá năng lực cạnh tranh của một quốc gia có thể được tiếp cận trên ba cấp độ(nền kinh tée, ngành, doanh nghiệp). Dưới dây sẽ đề cập đến trên cấp độ nền kinh tế.

Khả năng cạnh tranh của nèn kinh té Việt Nam được đánh giá ỏ mức độ rất thấp.

Hệ thống tài chính chưa năng động. Các nguồn thu vào ngân sách còn chứa đựng những yếu tố bất ổn dịnh, nhất là các khoản thu từ thuế xuất nhập giảm xuống làm cho mức thâm hụt càng lớn so với nhu cầu có thể giải quyết đồng bộ các vấn đề kinh tế xã hội, hệ thống ngân hàng thương mại với 4 trụ cột lớn vẫn chủ yếu thực hiện chức năng là tổ chức tín dụng chứ chưa phải là nhà đầu tư . Hơn 60%tín dụng cấp cho các doanh nghiệp là ngắn hạn, tỷ trọng đầu tư vào các doanh nghiệp của hệ thống ngân hàng hầu như là không đáng kể. Hệ thống tài chính theo kiểu trực tuyến với các cấp của hệ thống ngân sách . chúng ta còn thiếu hẳn hệ thống các tổ chức tài chính trung gian năng động cho nền tài chính quốc gia như: các công ty thuê mua, công ty nhận nợ, công ty chứng khoán… Lượng tiền trong lưu thông còn qua lớn, nằm ngoài sự kiểm soát của hệ thống tài chính công.

Hệ thống chứng từ kế toán chưa phản ánh các quan hệ thanh toán trong nền kinh tế. Các khoản chi tiêu có chứng từ làm cho luật thuế VAT phải có những điều chỉnh không đáng có, làm cho tính pháp lý của thuế chưa cao. Việc điều chỉnh thuế suất thuế VAT sẽ gây phức tạp cho việc tổ chức thực hiện. Hệ thống kế toán chưa theo kịp các thông lệ quốc tế cũng là một cản trở lớn cho sự hội nhập, trực tiếp làm giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.

Kết cấu hạ tâng kỹ thuật- thông tin còn thấp kém lại không đồng đều giữa các vùng là nguyên nhân trực tiếp làm giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, bởi từ đó chi phi đầu vào cho các doanh nghiệp tăng cao. Từ trạng thái phát triển không đều giữa các vùng, nhanh chóng thay đổi cơ cấu dân cư khiến một số đô thị nhanh chóng quá tải đang là gánh nặng cho ngân sách vì các vấn đề xã hội và sinh thái.

Trình độ, chất lượng nguồn nhân lực dồi dào nhưng không mạnh. Đội ngũ nhân lực trình độ cao để sẵn sàng đối phó với phân công lao động quốc tế chưa nhiều. Đây là vấn đề thách thức lớn cho hệ thống đào tạo, nhất là đào tạo nghề nghiệp, năng lực thực hành.

Đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế cả ở tầm vĩ mô và các doanh nghiệp đều bộc lộ những yếu kém, đặc biệt làkiến thức về thị trường và tài chính. Theo báo cáo mới đây của chính phủ gẩn 70% giám đốc doanh nghiệp không đọc nổi các báo cáo tài chính. Kết quả đợt tổng điều tra mới đây về trình độ cán bộ quản lý các doanh nghiệp cho thấy trong số 127 cán bộ quản lý được hỏi chỉ có 7 người được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn lại trong nước sau năm 1990, 9 người được bồi dưỡng ở nước ngoài với thời gian từ một đến ba tháng.

Thiết chế kinh tế còn mang nặng tính tập trung, một số ngành vẫn duy trì độc quyền ở các cấp độ, các hình thức. Khu vực kinh tế dân doanh chưa được khuyến khích thoả đáng, trong nhiều lĩnh vực nhiều khu vực vẫn chưa tìm thấy sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách vĩ mô với vấn đề của các doanh nghiệp dân doanh. Mặc dầu thời gian gần đây, sự thông thoáng đã thể hiện rõ qua việc thực hiện luật doanh nghiệp mới nhưng hệ thống doanh nghiệp dân doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chưa nhận đựơc sự hỗ trợ khích lệ thoả đáng từ phía nhà nước. Các vấn đề như quyền sử dụng đất, vấn đề quy hoạch tổng thể, sự phối hợp liên ngành của các cơ quan quản lý nhà nước vẫn tiếp tục hạn chế đầu tư dài hạn vào sản xuất củakhu vực kinh tế dân doanh.

Công nghệ sản xuất còn thấp, mặc dù đã có một số công nghệ đạt trình độ tiên tiến trên thế giới nhưng nhìn chung mặt bằng còn thấp. Trong các ngành sản xuất hàng hoá hướng về xuất khẩu chủ yếu là công nghệ có đựơc thông qua chuyên giao công nghệ và khả năng quản lý công nghệ chưa đạt yêu cầu của sự phát triển công nghệ và tăng trưởng kinh tế. Một số ngành khác chưa có công nghệ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thế giới dẫn tới chất lượng sản phẩm kém thiếu sức cạnh tranh, giá thành sản xuất cao. Mặc dù nước ta đã có một số thành tựu đáng kể trong phát triển công nghệ tuy nhiên vai trò nghiên cứu và triển khai còn thấp.

2. Những yếu tố chủ yếu làm hạn chế khả năng cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ

Thứ nhất, chi phí sản xuất trong từng ngành, từng sản phẩm trong toàn bộ nền kinh tế còn cao.

Trong nông nghiệp, chi phí sản xuất còn chiếm 40% giá trị sản xuất. Các phương thức canh tác còn lạc hậu, giống cây trồng vật nuôi có chất lượng và năng suất thấp, thiết bị chế biến còn lạc hậu, làm cho chi phí sản xuất cao. Khi giảm thuế nhập khẩu và dỡ bỏ các rào cản phi thuế sẽ hạn chế rất lớn khả năng cạnh tranh so với hàng nhập khẩu. Chắc chắn sẽ có những doanh nghiệp, những ngành sản xuất trong nông nghiệp bị thu hẹp quy mô, thâm chí không tồn tại nếu như ngay từ bây giờ không nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

Trong công nghiệp, chi phí sản xuất của nhiều sản phẩm còn cao, chiếm bình quân khoảng 70% giá trị sản xuất. Giá thành một số sản phẩm như xi măng, thép, giây, vải, phân bón, hoá chất cơ bản, đường…đều cao hơn giá thành sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực từ 20- 30%.
Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu do tồn tai yếu kém ở nhiều khâu: trước hết là trình độ công nghệ và trang thiết bị của nền kinh tế còn thấp, các thiết bị công nghệ lạc hậu và trung bình chiếm đến 60- 70%, lạc hậu hơn các nước trong khu vực hai đến ba thế hệ. Trình độ tay nghề còn thấp, vì vậy năng suất lao động thấp hơn nhiều so với các nước tiến. Chi phí nguyên liệu đầu vào nhìn chung là cao do chủ yếu nhập khẩu, chất lượng nguyên liệu sản xuất trong nước kém, không ổn định, cộng với chi phí sản xuất kinh doanh còn cao. Về mặt quản lý, các doanh nghiệp chưa quan tâm tìm giải pháp giảm các chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản xuất để tham gia hội nhập có hiệu quả, vẫn có tư tưởng trông chờ vào nhà nước về cấp vốn, hạ lãi suất, bù lỗ, miễn giảm thuế…Mặc dù năm 2003 đã đến thời hạn cắt giảm thuế theo hiệp đinh AFTA. Việc đầu tư nghiên cứu phát triển thương hiệu, kiểu dáng công nghiệp còn quá ít. Công tác xúc tiến thị trường tiếp thị còn lúng túng, ít được đầu tư và nhìn nhận đúng vai trò của nó.

Thứ hai, chất lượng lao động, năng suất lao động thấp.

Trong nông nghiệp và khu vực nông thôn, năng suất lao động còn quá thấp. Hiện nay, kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam dựa trên gần 12 triệu hộ nông dân đảm nhận, quy mô bé, phương tiện canh tác lạc hậu, năng suất chất lượng và hiệu quả thấp, sức cạnh tranh về hàng hoá nông sản trên thị trường kém. Lực lượng lao động ở nông thôn dồi dào nhưng đội ngũ lao động có tri thức còn mỏng, mới sử dụng khoảng 75% quỹ thời gian. Đất nông nghiệp bị chia cắt manh mún đang trở thành trở ngại lớn trong quá trình CNH-HĐH nông nghiệp.

Trong công nghiệp, trình độ lao động, trình độ tay nghề chưa thể đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của quá trình phát triểnvà là một nguyên nhân quan trọng hạn chế khả năng đổi mới công nghệ, đổi mới quy trình sản xuất và quản lý ở các doanh nghiệp hiện nay. Hiện có khoảng 73% lực lượng lao động công nghiệp không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Tỷ lệ đại học/ trung cấp/công nhân kỹ thuật của Việt Nam là 1/1,5/2.5 trong khi của thế giới là 1/2,5/3,5. Công tác đào tạo lại chưa được quan tâm đúng mức thiếu quy hoạch dài hạn, cộng với việc sử dụng đãi ngộ chưa thoả đáng.

Thứ ba, chi phí dịch vụ còn cao.

Theo điều tra của các tổ chức quốc tế và phản ánh của các doanh nghiệp, nhiều chi phí đầu vào tại Việt Nam được đánh giá cao hơn nhiều so với các nước trongkhu vực như cước điện thoại, viễn thông, phí giao thông vận tải, cảng biển, giá các sản phẩm độc quyền như xi măng, điện nước…Cụ thể là cước viễn thông quốc tế cao hơn từ 30- 50%; giá điện cao hơn Mianma, Thái Lan, Singapo, Indonesia, Lào khoảng trên 45%; chi phí vận tải đường biển contain cao hơn từ 40- 50%. Các mức phí và lệ phí hàng hải tại các cảng ở Sài Gòn còn cao hơn vài lần so với các cảng biển tại Bangkoc, Manila, Jakata.

Thứ tư, bộ máy quản lý còn kém hiệu quả.

Ở các doanh nghiệp, bộ máy quản lý còn cồng kềnh, thường chiếm từ 6- 9% tổng số lao động của doanh nghiệp; trong khi các nước trong khu vực chỉ chiếm từ 3- 4%. Chi phí quản lý doanh nghiệp trong nhiều ngành thường chiếm từ 5-8% giá thành là khá cao. Mặt khác do quy định của nhà nước nên nhiều vị trí trong bộ máy không kiêm nhiệm được và kém linh hoạt. Đáng lưu ý là tổ chức lao động ở nhiều doanh nghiệp chưa hợp lý và khoa học, biên chế quá lớn (đặc biệt là đội ngũ gián tiếp), chức năng nhiệm vụ không rõ ràng, kỷ luật lao động chưa nghiêm…làm cho năng suất và hiệu quả thấp.