Thực trạng nền kinh tế quá độ ở nước ta

 

1. Những thành tựu đã đạt được

1.1. Về kinh tế

Như ta đã biết dưới ách thống trị của thực dân Pháp nền kinh tế nước ta phụ thuộc hoàn toàn vào chủ nghĩa đế quốc, kinh tế hết sức nghèo nàn, lạc hậu, nạn đói xảy ra triền miên và kéo dài, nghiêm trọng nhất là vào năm 1945 có tới hàng vạn người có nguy cơ chết đói. Nhưng từ khi cuộc kháng chiến trường kì kết thúc thắng lợi, miền Bắc bước vào thời kì quá độ thì dưới sự lãnh đạo của Đảng tính chất nền kinh tế đã thay đổi. Từ nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến, chúng ta đã xây dựng được nền kinh tế mang tính độc lập mang tính chất dân chủ nhân dân, thoát khỏi sự phụ thuộc hoàn toàn vào chủ nghĩa đế quốc.

Trong giai đoạn từ 1945 đến 1975 kinh tế đã có những bước phát triển nhất định nhưng kết quả thực sự đáng lưu ý là từ năm 1986 đến nay (thời kì đổi mới). Sau gần 20 năm đổi mới kinh tế đã có những bước chuyển biến đáng mừng.

Thứ nhất: Nền kinh tế trong những năm qua tăng trưởng liên tục và có tốc độ cao. Mức tăng GDP năm 2002 đạt 6,79%, năm 2003 đạt 7,26% và năm 2004 đạt 7,5% cao nhất từ năm 1997 trở lại đây. Cụ thể mức tăng của một số ngành như sau.

Ngành nông nghiệp: Mặc dù trong những năm qua thời tiết khắc nghiệt, thiên tai và hạn hán thường xuyên xảy ra, nạn cúm gia cầm trong hai năm vừa qua đã gây ảnh hưởng lớn nhưng tổng sản phẩm ngành nông, lâm, thuỷ sản vẫn tăng 3,5% góp 0,7% vào tốc độ tăng trưởng chung. Sản xuất lương thực, thực phẩm vẫn giữ vai trò lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp. Nhờ áp dụng khoa học công nghệ mà sản xuất lúa đã chuyển dịch mạnh theo hướng tăng năng suất lao động, tăng chất lượng lúa gạo để phù hợp nhu cầu thị trường, tăng sức cạnh tranh của gạo Việt Nam trên trường quốc tế. Chúng ta vẫn giữ vững vị trí thứ hai về xuất khẩu gạo, ngoại tệ thu được từ xuất khẩu gạo tăng từ 734 triệu USD lên 900 triệu USD năm 2004.

Ngành công nghiệp: sản xuất vẫn phát triển ổn định và tăng trưởng cao. Sản xuất công nghiệp và xây dựng tăng 10,2% chiếm tỷ trọng 3,9% trong tốc độ tăng trưởng chung. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2004 đạt 354 nghìn tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2003 trong đó tăng cao nhất là khu vực ngoài quốc doanh (22,8%), khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 15,7%.

Thứ hai: Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế với sự chuyển dịch ngành và chuyển các thành phần kinh tế.

Cơ cấu ngành kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng khu vực I (gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản) tuy vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao liên tục nhưng tỷ trọng đã giảm xuống trong đó tỷ trọng khu vực II (công nghiệp và xây dựng cơ bản) và khu vực III (gồm các ngành dịch vụ) đã tăng lên. Đến năm 2003 tỷ trọng của khu vực I là 22%, khu vực II là 39%, khu vực III là 39%; năm 2004 thì tỷ trọng các khu vực tương ứng là 21.8%; 40.1%; 32.2% .Các thành phần kinh tế trong GDP cũng có sự chuyển dịch từ chủ yếu là quốc doanh, hợp tác xã sang đa thành phần nhung vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh vẫn được tăng cường.

Thứ ba: Về cơ chế quản lý kinh tế mới đã bước đầu được hình thành. Nhà nước đã xoá bỏ về cơ bản kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình hình thành cơ chế thị trường, Nhà nước đã dần dần cải tổ bộ máy và các công cụ quản lý. Từ chỗ chủ yếu sử dụng phương pháp hành chính coi kế hoạch hoá với các chỉ tiêu pháp lệnh là công cụ để quản lý, điều hành nền kinh tế sang chủ yếu quản lý bằng pháp luật kết hợp chính sách và các công cụ điều tiết vĩ mô như chính sách tài chính, tiền tệ, thu nhập và chính sách kinh tế đối ngoại.

Thứ tư: Kinh tế nước ta đã đạt thành công lớn trong việc kiềm chế và đẩy lùi lạm phát. Trong những năm từ 1986 đến 1988 lạm phát tới ba con số (cao nhất là 774,7% năm 1986) nhưng đến năm 1989 lạm phát đã được chặn lại ở hai con số sau đó giảm xuống một con số (năm 1997 là 3,7%; năm 1999 là 0,1%; năm 2001 là 0,8%; năm 2002 là 4%; năm 2003 là 3% thậm chí còn có giảm phát vào năm 2000 là – 0.6%. Năm 2004 vừa qua lạm phát đã tăng lên 9,5%.

Thứ năm:Về kinh tế đối ngoại. Trong thời kì quá độ cũng phát triển mạnh mẽ. Chúng ta đã tham gia vào các tổ chức khu vực cũng như trên thế giới: gia nhập ASEAN năm 1995, gia nhập AFTA năm 1996, gia nhập APEC năm 1998, ký hiệp định thương mại Việt – Mĩ, nộp đơn gia nhập WTO năm 1994 và hiện nay đang xúc tiến đàm phán để thực hiện mục tiêu gia nhập WTO trong năm nay. Tháng 10 năm 2004 vừa qua chúng ta đã tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh Á – Âu lần thứ 5 (ASEM 5). Và đến tháng 11 năm 2004 Việt Nam đã kí 86 hiệp định thương mại song phương, 46 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp định chống đánh thuế hai lần đối với các nước, vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại với 160 nước và nền kinh tế, thiết lập quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ như WB, FDI, IMF, ODA…

1.2. Về xã hội

Trong suốt thời kì quá độ chúng ta đã đạt được những chuyển biến tốt về mặt xã hội. Nhìn chung đời sống vật chất, tinh thần của phần lớn nhân dân được cải thiện một bước rõ rệt. Số hộ có thu nhập trung bình và số hộ giàu tăng lên ( hiện nay lớn hơn 10%), GDP bình quân đầu người trong cả nước đạt 484,8 USD, khu vực thành thị đạt tới 794,8%, khu vực Đông Nam Bộ đạt 820,8 USD. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 30% năm 1992 xuống còn 10,8% năm 2003 và 9,03% năm 2004.

Một thành quả to lớn về xã hội phải kể đến là sự phát triển của hệ thống y tế, giáo dục. Mạng lưới y tế bây giờ đã rộng khắp luôn kịp thời chăm lo sức khoẻ cho nhân dân. Ở hầu hết các xã phường thị trấn đều có các trạm xá với những cán bộ y tế đã được qua đào tạo. Thành công về y tế lớn nhất trong năm vừa qua là chúng ta đã nhanh chóng kìm chế, khoanh vùng được dịch Sar cũng như dịch cúm gia cầm, rồi những ca phẫu thuật cấy ghép tuỷ, thận…

Về giáo dục: Giáo dục ở Việt Nam trong những năm vừa qua luôn được coi là quốc sách hàng đầu. Đảng và Nhà nước luôn có những chính sách hỗ trợ và đầu tư cho phát triển giáo dục như đầu tư cơ sở hạ tầng kĩ thuật, trợ cấp cho học sinh, sinh viên…Kết quả là số người tham gia xóa mù chữ ở tất cả các cấp tăng lên 12%. Về cơ bản nước ta đã phổ cập được tiểu học. Đến tháng 6 năm 2004 đã có 19 tỉnh trong cả nước được công nhận phổ cập trung học cơ sở. Tính năng động sáng tạo của người dân được khơi dậy và phát huy. Người lao động ngày càng chủ động hơn trong tìm kiếm việc làm tìm cách tăng thu nhập, tự cải thiện đời sống, tham gia ý kiến đóng góp vào các sinh hoạt chung của cộng đồng, xã hội. Không còn nhiều hiện tượng ỷ lại, thụ động, trông chờ Nhà nước, dựa dẫm tập thể.

1.3. Về chính trị

Thứ nhất đã thực hiện tốt Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý. Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam là một tất yếu lịch sử và là tất yếu khách quan. Từ khi giành được thắng lợi trong cuộc cách mạng Tháng 8 năm 1945, Đảng cộng sản Việt Nam về thực chất đã trở thành một Đảng cầm quyền. Trong suốt mấy chục năm qua Đảng đã thành công trong việc vừa lãnh đạo nhân dân tiến hành các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập và xây dựng một xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Đảng luôn là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo cách mạng và lãnh đạo nhân dân, Đảng lãnh đạo toàn diện đối với Nhà nước và mọi mặt của đời sống xã hội. Tuy nhiên, Đảng không tự biến mình thành Nhà nước.

Thứ hai: Trong suốt thời kì quá độ vừa qua nhìn chung chúng ta tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ chế độ, chủ quyền đất nước. Mặc dù những kẻ thù địch không ngừng chống phá cách mạng trong nước, mặc dù xảy ra khủng hoảng kinh tế, xã hội vào thời kì những năm 1996 – 2000 nhưng chính trị của nước ta vẫn được ổn định. Thành quả này là kết quả tổng hợp của công cuộc đổi mới trong đó quốc phòng an ninh giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Các nhu cầu củng cố quốc phòng, cải thiện đời sống của lực lượng vũ trang luôn được quan tâm đáp ứng. Chất lượng và sức mạnh quân đội luôn được nâng lên. Thế trận quốc phòng toàn dân luôn được củng cố vững chắc, chủ quyền đất nước càng được khẳng định rõ ràng. Như vậy, chúng ta đã thực hiện tốt chính sách kết hợp kinh tế và an ninh quốc phòng.

Thứ ba: chúng ta thực hiện có kết quả nhiều bước quan trọng về hệ thống chính trị.

Về củng cố Đảng: Trong thời gian qua Đảng đã từng bước bổ sung, cụ thể hoá đường lối đổi mới, làm rõ dần con đường đi lên CNXH ở nước ta, củng cố về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong xã hội.

Về phát huy quyền làm chủ của nhân dân: Tuy thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý nhưng Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền dân chủ, do dân và vì dân. Điều đó thể hiện rõ nhất trong các cuộc bầu cử Đại biểu hội đồng nhân dân các cấp theo chế độ phổ thông đầu phiếu, chính người dân đã trực tiếp được cầm phiếu đi bầu người đại diện cho mình – những người sẽ thay mặt họ trình bày lên cơ quan cấp trên có thẩm quyền những vấn đề bất cập trong cuộc sống hàng ngày, sẽ thay mặt họ đòi hỏi những quyền lợi hợp pháp mà họ được hưởng. Bên cạnh đó, đời sống của nhân dân các vùng dân tộc cũng được đặc biệt chú ý quan tâm, Đảng và Nhà nước đã tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển của cộng đồng các dân tộc Việt Nam . Đảng luôn luôn tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo của các dân tộc, luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo nhưng cũng đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để xâm hại đến lợi ích quốc gia dân tộc.

Thứ tư: chúng ta phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá vỡ thế bao vây, cô lập, tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế. Chúng ta đã triển khai tích cực và năng động đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá. Chúng ta đã khắc phục và tăng cường quan hệ với các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật, bình thường hoá quan hệ Việt – Mỹ, mở rộng quan hệ với các nước Nam á, Châu Phi, Mỹ Latinh, Trung Đông, với các tổ chức quốc tế, khu vực, đã tham gia vào các tổ chức ASEAN, AFTA, APEC…và sắp tới đây sẽ gia nhập WTO . Chúng ta đã nối lại quan hệ với các quỹ tiền tệ như IMF, ODA… nên chúng ta đã được hỗ trợ rất nhiều về vốn – một yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất. Đồng thời, chúng ta tiếp tục duy trì phát triển quan hệ đoàn kết hữu nghị với các Đảng cộng sản và công nhân các phong trào độc lập, các tổ chức và phong trào cách mạng tiến bộ trên thế giới; thiết lập quan hệ với các Đảng cầm quyền.

Thành tựu trên lĩnh vực đối ngoại là một nhân tố quan trọng góp phần giữ vững hoà bình, phá bỏ thế bị bao vây, cấm vận, cải thiện môi trường quốc tế, nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế.

2. Những hạn chế

Tuy đã đạt được những thành tựu to lớn nhưng trong thời kì quá độ và trong công cuộc đổi mới đất nước chúng ta đã còn mắc không ít khuyết điểm và yếu kém.

2.1.Những hạn chế tồn tại trong kinh tế của thời kì quá độ.

Một là: Nước ta đã có nhiều biện pháp thúc đẩy phát triển cơ chế thị trường nhưng cho đến nay cơ chế thị trường vẫn còn sơ khai. Hệ thống quản lý kinh tế nước ta còn đang trong quá trình chuyển đổi, luật pháp, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ, nhất quán và tác động cùng chiều để thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả và đúng hướng. Các kế hoạch định hướng phát triển kinh tế về quy hoạch, xây dựng, quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên…, thủ tục hành chính có nhiều tiến bộ nhưng còn chậm chạp. Thường có sai sót mới sửa đổi bổ sung chứ chưa đưa ra được từ khi ban hành nên còn nhiều bất cập trong hệ thống hành chính quốc gia. Về thương nghiệp thì Nhà nước còn “bỏ trống” một số “trận địa” quan trọng, chưa phát huy tốt được vai trò chủ đạo trong lưu thông hàng hoá, ổn định giá cả thị trường, bảo vệ sản xuất và tiêu dùng làm cho giá cả năm vừa qua tăng lên tới 9,5%, xảy ra cả ngộ độc thực phẩm, người tiêu dùng mua phải hàng giả, hàng kém chất lượng. Khâu quản lý xuất nhập  khẩu còn nhiều sơ hở, tiêu cực như nhập lậu, trốn thuế, nhận hối lộ… gây ra những tác động xấu không nhỏ cho đối với sản xuất trong nước.

Ngoài tích luỹ nội bộ thấp thì vấn đề sử dụng vốn đầu tư cũng là vấn đề nan giải. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư được phản ánh qua chỉ số ICOR. Vào  đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX chỉ số ICOR khoảng 0,4:1 – 0,5:1 thì năm 2001 là 4,12:1, năm 2003 là 4,92:1 chỉ số ICOR tăng cho thấy tốc độ phát triển của vốn lớn hơn giá trị tăng thêm suy ra chúng ta sử dụng vốn đầu tư còn rất kém hiệu quả.

Ba là: Kinh tế tăng trưởng khá nhanh nhưng năng suất hiệu quả còn thấp. Nhìn chung tốc độ tăng trưởng nền kinh tế chưa xứng với mức tăng đầu tư và thấp hơn so với kế hoạch, tính bền vững và độ đồng đều chưa cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm. Khu vực dịch vụ tuy được đầu tư khá xong tỷ trọng tăng chậm trong cơ cấu GDP thậm chí năm 2004 còn giảm so với năm 2003 là 6,8%. Hệ thống dịch vụ hỗ trợ sản xuất vừa thiếu vừa yếu và kém hiệu quả. Cơ cấu lao động chuyển dịch chậm không tương ứng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là trong khu vực nông nghiệp nông thôn ( năm 2003 còn  chiếm lớn hơn 60% lao động).

Bốn là cạnh tranh còn yếu và trình độ kĩ thuật lạc hậu. Sức cạnh tranh và năng lực quản lý của các doanh nghiệp còn yếu, thiếu sự chuẩn bị để ứng phó hiệu quả với quá trình hội nhập đang diễn ra ngày càng sâu rộng (thể hiện rõ ở việc các doanh nghiệp chưa thực sự chú ý đến việc đăng kí nhãn hiệu cho sản phẩm của mình). Xét về tiêu chí cạnh tranh của sản phẩm như giá cả, chất lượng, mạng lưới tổ chức tiêu thụ thì hàng hoá của Việt Nam cũng có sức cạnh tranh yếu. Những mặt hàng xuất khẩu chưa có được hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, hàng xuất khẩu chủ yếu là thô hoặc sơ chế ví dụ như dầu khí, than… và chất lượng thấp. Bên cạnh đó chưa xây dựng và sử dụng các biện pháp bảo vệ thị trường nội địa. Một trong những nguyên nhân khiến cho cạnh tranh yếu là hàm lượng công nghệ trong sản phẩm, trình độ lao động của Việt Nam còn thấp. Theo con số thống kê Việt Nam có gần 40 triệu lao động thì có tới 83% lao động không có trình độ chuyên môn kĩ thuật, số lượng công nhân được đào tạo nghề chiếm chưa tới 26 %.