Thực trạng nhận diện và phân loại chi phí

Tại Bảng tổng hợp kết quả khảo sát dành cho cán bộ kế toán, phụ lục 2.1e cho thấy chi phí sản xuất được các công ty xi măng chủ yếu phân loại theo khoản mục với tỷ lệ 100%, theo nội dung kinh tế là 60%. Với tiêu thức phân loại chi phí theo khoản mục thì toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành chi phí NVL trực tiếp, chi phí NCTT và chi phí SXC. Đồng thời cũng chỉ rõ mục đích của việc phân loại CPSX nhằm để tính GTSP với tỷ lệ 80%, phân tích hiệu quả kinh tế 20% và so sánh với dự toán 33%.

– Chi phí sản xuất được phân loại theo khoản mục gồm:

+ Khoản mục chi phí NVL chính trực tiếp chiếm khoảng 59% – 69%  trong giá thành sản phẩm ở 9 công ty chiếm 60%, bao gồm đất sét khai thác, các loại đá vôi, các loại quặng, đá bột, clinker, phụ gia, thạch cao…

Chi phí NVL phụ, bao gồm vỏ bao, bi đạn, gạch chịu lửa, dầu, mỡ bôi trơn, vật liệu phụ khác.

Nhiên liệu là loại vật liệu dùng để cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất gồm than cám, dầu FO…

+ Khoản mục chi phí NCTT chiếm khoảng 6% – 10% trong giá thành sản phẩm ở 10 công ty chiếm 67%. Khoản mục chi phí này bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương tính vào chi phí sản xuất như KPCĐ, BHYT, BHXH, BHTN của công nhân trực tiếp sản xuất. Chi phí CNTT chiếm một tỷ lệ không lớn trong giá thành, nhưng đây là yếu tố không thể thiếu và góp phần thúc đẩy năng suất lao động, sử dụng tiết kiệm các nhân tố khác.

+ Khoản mục chi phí SXC chiếm 20%  – 35% trong giá thành sản phẩm ở 9 công ty chiếm 60%. Chi phí SXC bao gồm tất cả các chi phí sản xuất ngoài 2 khoản mục chi phí trên, được phân bổ cho đối tượng chịu chi phí theo tiêu thức chi phí NVLTT (theo tỷ lệ 100% phiếu khảo sát được tổng hợp). Chi phí SXC tại công ty được chia theo các tiểu mục như sau:

Chi phí nhân viên phân xưởng: khoản mục này là toàn bộ tiền lương và các khoản trích theo lương trả cho nhân viên quản lý phân xưởng của từng phân xưởng ở từng công đoạn sản xuất.

Chi phí nguyên vật liệu phụ cho các phân xưởng: chi phí này bao gồm toàn bộ những vật liệu tham gia gián tiếp trong quá trình sản xuất sản phẩm, nó có tác dụng phục vụ cho quá trình sản xuất hoàn thành tốt hơn như thuốc nổ, kíp mìn, bi đạn, bao bì…

Chi phí công cụ dụng cụ cho các phân xưởng: đây là các chi phí về công cụ dụng cụ tham gia phục vụ cho quá trình sản xuất như một số xe đẩy, quạt thông gió, bảo hộ lao động, dụng cụ sửa chữa máy móc …

Chi phí khấu hao TSCĐ cho các phân xưởng: chi phí khấu hao TSCĐ là một yếu tố chiếm phần lớn trong tổng chi phí sản xuất chung của các công ty sản xuất xi măng. Giá trị đầu tư cho nhà xưởng, kho bãi, dây chuyền sản xuất xi măng có giá trị rất lớn mặc dù các công ty đã xem xét về thời gian khấu hao của từng loại TSCĐ thông qua công suất khai thác và thời gian sử dụng cho hoạt động sản xuất để phản ánh đúng giá thành sản phẩm. Đây cũng là một yếu tố quan trọng trong nội dung chi phí để tính giá thành. Đồng thời, khoản mục chi phí thuế tài nguyên khi khai thác cũng góp phần làm tăng chi phí trong giá thành sản xuất của đơn vị.

Chi phí dịch vụ mua ngoài cho các phân xưởng: khoản mục này bao gồm những khoản chi phí như: tiền điện, nước, điện thoại…trong đó tiền điện thường chiếm phần lớn trong tổng chi phí sản xuất chung sau khoản chi phí khấu hao TSCĐ, vì phần lớn máy móc thiết bị đều chạy bằng điện và có công suất tiêu thụ lớn. Do vậy yếu tố chi phí này cũng là một phần rất quan trọng trong giá thành sản phẩm.

Chi phí bằng tiền khác cho phân xưởng: khoản mục này bao gồm các khoản chi phí bằng tiền ngoài các khoản mục trên dùng cho sản xuất trong kỳ, chi phí này chiếm không lớn trong khoản mục chi phí sản xuất chung, nhưng đây là yếu tố góp phần làm cho quá trình sản xuất được liên tục.

Tuy nhiên đối với các công ty có quy mô nhỏ như Công ty Cổ phần xi măng Duyên Linh, Công ty TNHH Cường Thịnh… thì cơ cấu chi phí sản xuất lại có thay đổi đáng kể đó là tỷ trọng chi phí NVLTT thường chiếm khoảng 70 – 75%, chi phí NCTT chiếm khoảng 6 – 10% và chi phí sản xuất chung 15 -19%. Lý do có cơ cấu chi phí sản xuất này là vì nguyên vật liệu phải mua hoàn toàn từ bên ngoài đặc biệt là giá clinker khá cao chiếm phần lớn trong giá thành sản phẩm, sử dụng lao động không nhiều và công nghệ sản xuất còn lạc hậu. Thực chất các công ty này chỉ thực hiện công đoạn 2 của sản xuất xi măng bắt đầu từ việc mua Clinker về phối liệu với các chất phụ gia để nung và nghiền thành xi măng.

+ Các chi phí ngoài sản xuất đó là CPBH và CPQLDN được các công ty phân loại theo nội dung kinh tế gồm có các tiểu mục chi phí như:  chi phí nhân viên, chi phí nguyên vật liệu, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác.

Cũng tại Bảng tổng hợp phiếu khảo sát phụ lục 2.1e cho thấy các công ty xi măng đều mở Sổ kế toán chi tiết theo dõi chi phí đạt tỷ lệ 100%. Việc mở sổ được chi tiết theo từng khoản mục chi phí và cho từng đối tượng tập hợp. Trong đó, đối tượng mở Sổ kế toán chi tiết theo dõi chi phí cho từng sản phẩm xi măng hoàn thành là 100%, cho bán thành phẩm clinker là 33% và chi tiết theo từng phân xưởng là 80%

Cụ thể, minh họa việc theo dõi và tập hợp chi phí tại một số công ty xi măng tại Hải Dương như sau:

Từ phụ lục 2.2-1HT đến phụ lục 2.2-12HT là kế hoạch sản xuất và các sổ kế toán chi tiết để tập hợp chi phí sản xuất của Công ty Xi măng Vicem Hoàng Thạch.