Thực trạng phát triển các loại thị trường ở nước ta hiện nay

Từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, nền kinh tế nước ta đang từng bước hình thành các loại thị trường mới. Cùng với các thị trường thông thường như thị trường hàng hóa dịch vụ, các thị trường tài chính, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học va công nghệ đang được hình thành. Nhìn chung các loại thị trường này ở nước ta còn sơ khai, chưa hình thành đồng bộ xét về trình độ, phạm vi và sự phối hợp các yếu tố thị trường trong tổng thể toàn bộ hệ thống. Các loại thị trường như thị trường hàng hoá-dịch vụ thông thường đáp ứng nhu cầu thường xuyên của người tiêu dùng như ăn uống, khách sạn, du lịch, háng hoá tiêu dùng … đã phát triển nhanh. Trong khi đó một số loại thị trường còn đang rất sơ khai, thông tin không đầy đủ. Có những thị trường bị biến dạng, không theo quy luật của thị trường , sự kiểm soát của Nhà nước kém hiệu quả như thị trường bất động sản đang hoạt động “ngầm”. Một số thị trường đang bị chi phối bởi cơ chế thị trường và tính bao cấp của cơ chế cũ như thị trường sức lao động. Tiền lương, tiền công của công chức một phần được trả từ ngân sách theo cơ chế bao cấp, một phần được bù đắp bằng chế độ trả thêm, ngoài giờ hoặc các khoản khác từ các nguồn khác nhau. Thu nhập của công chức hầu hết cao hơn tiền lương vì chế độ tiền lương đã quá lạc hậu.

Nguyên nhân thị trường nước ta phát triển còn thấp, chưa đồng bộ là :

– Bản thân nền kinh tế phát triển từ một nước nông nghiệp lạc hậu, lực lượng sản xuất yếu, kết cấu hạ tầng bất cập, cơ cấu kinh tế chưa hình thành một nền kinh tế hàng hóa hiện đại của một nền kinh tế công nghiệp.

– Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa , nhiều vấn đề còn bất cập song trùng.

– Hệ thống pháp luật, chính sách kinh tế thị trường mới hình thành chưa theo kịp cuộc sống thực tế và luật pháp quốc tế.
Những thị trường cơ bản và hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước trong việc phát triển đồng bộ thị trường ở nước ta là :

1. Thị trường hàng hóa – dịch vụ

Thị trường hàng hóa – dịch vụ đã được hình thành sơ khai ngay trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, nhất là thị trường nông sản, mặc dù trong thời kỳ này chúng ta không có khái niệm về thị trường theo đúng nghĩa của nó và không khuyến khích phát triển thị trường . Thị trường này hình thành là do nhu cầu cuộc sống xã hội, nhu cầu của nền kinh tế . Sự phát triển của thị trường hàng hóa – dịch vụ có bước đột phá tương đối mạnh kể từ khi Việt Nam áp dụng chế độ khoán trong nông nghiệp và kế hoạch 3 phần trong xí nghiệp quốc doanh (đầu những năm 80 của thế kỷ XX). Thị trường này có sự thay đổi cơ bản kể từ khi chúng ta xoá bỏ chế độ tem phiếu, thực hiện cơ chế giá thị trường đối với hầu hết hàng hóa và dịch vụ, từng bước tiền tệ hóa tiền lương, từng bước xoá bỏ bao cấp, xoá bỏ việc “ngăn sàng, cấm chợ”, trao quyền tự chủ kinh doanh cho doanh nghiệp … (những năm giữa và cuối thập niên 80 của thế kỷ XX). Thị trường này đặc biệt phát triển mạnh từ khi Việt Nam tuyên bố áp dụng cơ chế thị trường, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế (từ những năm 90 thế kỷ XX).

Hiện nay, hàng hóa là sản phẩm sản xuất ra để bán theo quan hệ cung – cầu. Quá trình sản xuất và tiêu dùng ngày càng phát triển ,sản phẩm hàng hóa ngày càng đa dạng, phong phú. Người tiêu dùng ngoài nhu cầu về sản phẩm vật chất còn có nhu cầu về sản phẩm không vật chất, đó là các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của con người như dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thông tin liên lạc , văn hoá , du lịch … phát triển mang tính toàn cầu.

Từ khi tiến hành đổi mới nền kinh tế , thị trường hàng hóa – dịch vụ ở nước ta phát triển nhanh chóng, tạo ra môi trường cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Thị trường hàng hóa – dịch vụ đã hoạt động sinh động trong hệ thống các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần hoặc liên doanh với nước ngoài …Thị trường hàng hóa – dịch vụ đã mở rộng với thị trường khu vực và thế giới.

Nước ta đã đạt được những thành tựu rất đáng coi trọng từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay. Sản phẩm tạo ra do các thành phần kinh tế ,các cấp, các doanh nghiệp, hộ gia đình với số lượng lớn. Lương thực (quy thóc) năm 1980 cả nước chỉ đạt 14,4 triệu tấn. Năm 1986 sản xuất được 18,38 triệu tấn lương thực. Năm 1990 sản xuất lương thực là 21,49 triệu tấn và bắt đầu xuất khẩu gạo với 1,2 triệu tấn. Ngoài gạo thị trường nước ta đã sản xuất ra nhiều hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao từ khi đổi mới là trên 7%. Theo báo cáo của tổng cục thống kê, năm 2002 nền kinh tế tăng trưởng khá, các chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2002 đạt và vượt chỉ tiêu đã đề ra. Tổng sản phẩm trong nước tăng 7,04%, cao hơn 0,15% so với mức tăng trưởng năm trước; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,5%. Sản lượng một số sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp quan trọng phục vụ sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu đều bằng hoặc vượt trội mức sản xuất của các năm trước. Sản lượng lúa đạt 34,1 triệu tấn, đảm bảo đủ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu 3,2 triệu tấn gạo, sản lượng đIửn tăng 16%, thép cán tăng 27,7%, xi măng tăng 25,8%, thuỷ sản chế biến tăng 25,2%, quần áo may sẵn tăng 26,1%, vải lụa tăng 10%. Kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt 16,5 tỉ USD, tăng 10% so với năm 2001, mặc dù nhập siêu còn lớn với 2,8 tỉ USD -bằng 16,8% kim ngạch xuất khẩu. Dịch vụ có bước biến chuyển mới, phát triển trong 10 năm tăng 8,3%, hoạt động thương mại tăng, tổng mức bán lẻ hàng hoá dịch vụ xã hội 5 năm 1996-2000 tăng 10,3 %/năm, xuất khẩu bình quân 10 năm là 29,1 %/năm . Như vậy cả hàng hoá ,dịch vụ của Việt Nam phát triển nhanh, khối lượng hàng hoá, dịch vụ ngày càng lớn đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm.

Cùng với sự lớn mạnh của nền kinh tế , quá trình mở rộng giao lưu hàng hóa – dịch vụ nước ta với quốc tế cũng ngày càng phát triển , ranh giới giữa các quốc gia đã không còn. Việt Nam đã xuất khẩu ra hơn 100 quốc gia trên thế giới với mặt hàng chủ lực gạo, hải sản, thuỷ sản, dệt may, giày da … Nói đến những thành công thì không thể không nói đến những vấn đề đang còn bất cập trong sự phát triển của thị trường hàng hóa – dịch vụ của ta. Đó là thị trường hàng hóa – dịch vụ còn manh mún, quy mô nhỏ, chất lượng hàng hoá kém, tính cạnh tranh chưa cao, sức mua còn thấp, hàng hoá ứ đọng khó tiêu thụ, khi hàng hoá nước ngoài vào thì khó cạnh tranh về giá cả và chất lượng. Thị trường và sức mua phát triển không đồng đều, sức mua thấp ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Hệ thống pháp luật yếu, thiếu, chưa đồng bộ. Thương hiệu hàng hóa Việt Nam còn ít, chưa tạo được chữ tín cho khách hàng.

2. Thị trường lao động

Có thể nói thị trường lao động là khá mới mẻ đối với Việt Nam bởi lẽ việc hình thành các chợ lao động, trung tâm giới thiệu việc làm rất nhỏ lẻ. Có thể nói lao động là một yếu tố đầu vào quan trọng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm : lao động, đất đai, vốn … Đối với nước ta hiện nay việc hình thành thị trường lao động là hết sức cần thiết, nó giúp tháo gỡ những vướng mắc giữa người lao động và người sử dụng lao động, giúp rút ngắn con đường tìm việc làm và tuyển dụng lao động, giúp cho quá trình “người tìm việc, việc tìm người” diễn ra một cách khoa học, dễ dàng, đảm bảo quyền lợi của người mua và người bán thông qua hợp đồng lao động.

Ở nước ta lực lượng lao động rất dồi dào. Tính đến ngày 1/7/2003 lực lượng lao động cả nước lớn hơn 15 tuổi là 42.128.300 người , tăng 1,85% so với năm 2002, trong đó ở thành thị có 10.186.800 người, ở nông thôn là 31.941.500 người chiếm 75,82%, lực lượng lao động đang làm việc là 41.179.400 người, lao động được đào tạo 21%; nhưng vẫn còn thiếu lực lượng lao động có tay nghề. Trong năm 2002, tổng vốn đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu vào lĩnh vực xây dựng và công nghiệp với 569 dự án được cấp phép, chiếm 82% tổng số dự án, tổng số vốn đăng ký 1,112 tỉ USD, chiếm 84% tổng số vốn đăng ký, thu hút 70% lao động và tạo trên 90% giá trị xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Nhà nước cũng đã tạo điều kiện cho sự phát triển của nguồn lao động trong nước. Năm 2003 đã có 8 trường dạy nghề đưa tổng số trường dạy nghề trên cả nước là 213 trường, số trung tâm dạy nghề là 221, chất lượng tiến độ tốt nghiệp 90% đã đào tạo được 4000 giáo viên, và có 70% số người ra tìm được việc làm . Trong các chỉ tiêu chủ yếu của năm 2005 về lao động và việc làm đã đề ra của đại hội Đảng IX là :

– Chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng lao động cho sản xuất công nghiệp-xây dựng từ 16% năm 2000 đến 20-21% năm 2005, lao động ngành dịch vụ từ 21 lên 22-23%, giảm lao động nông, lâm , ngư nghiệp từ 63% xuống 56-57%.
– Tăng lao động kỹ thuật 20% năm 2000 lên 30% năm 2005
– Tạo việc làm ổn định cho 7,5 triệu người
– Năm 2005 giảm tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị 5,4%

Như vậy, Nhà nước ta đã có rất nhiều biện pháp để hình thành đội ngũ lao động có chất lượng cao, chuẩn bị chất lượng lao động tốt phục vụ yêu cầu của thị trường.

Tuy nhiên, mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng nguồn lao động của ta chỉ đông đảo nhưng chất lượng còn thấp kém, không đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Việc ra đời của một số chợ lao động vẫn còn nhỏ, lẻ, chưa mang quy mô toàn quốc, chưa diễn ra thường xuyên và còn nhiều tình trạng chen lấn xô đẩy ở chợ lao động. Đồng thời việc thu hút lao động từ nông thôn ra thành thị vào các khu công nghiệp nảy sinh nhiều vấn đề xã hội như nhà ở, dịch vụ, tệ nạn xã hội.

3. Thị trường vốn

Thị trường vốn là một lĩnh vực rộng và phức tạp gắn với các hoạt động tài chính, tín dụng, ngân hàng. Thị trường tín dụng trung hạn và dài hạn đã có bước chuyển biến tích cực. Tỷ trọng cho vay trung hạn và dài hạn của hệ thống ngân hàng thương mại đã tăng lên đáng kể. Theo báo cáo của các ngân hàng thương mại quốc doanh, tính đến ngày 31/12/2001 dư nợ trung hạn và dài hạn của các ngân hàng thương mại là 55,9 nghìn tỉ đồng, bằng 33,7% tổng dư nợ cho vay.

Ta đã biết hình thành và phát triển đồng bộ thị trường vốn là cơ sở vững chắc cho việc phát triển thị trường chứng khoán trong tương lai. Ngày 28/11/1996 chính phủ ban hành Nghị định 75/CP về việc thành lập uỷ ban chứng khoán Nhà nước, ngày 11/7/1998 Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán và Quyết định 127/1998/QĐ-TTG về việc thành lập hai trung tâm giao dịch chứng khoán ở Hà Nội và TP.HCM.Sau hơn 2 năm đi vào hoạt động (tính đến 7/2002) đã có 19 loại cổ phiếu niêm yết trên trung tâm giao dịch với tổng giá trị vốn điều lệ là 1.016 tỉ đồng. Uỷ ban chứng khoán đã phối hợp với Bộ tài chính thực hiện đấu thầu 22 phiên bản và bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ với tổng giá trị là 3088,6 tỉ đồng.

Hiện nay trên thị trường chứng khoán Việt Nam có 11 công ty chứng khoán được thành lập gồm có 5 công ty chứng khoán cổ phần và 6 công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán. Có 7/11 công ty đăng ký thực hiện đầy đủ 5 nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán đó là : môi giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán. Đến tháng 7/2002, số tài khoản giao dịch được mở tại các công ty chứng khoán là 12.000, trong đó bao gồm 91 nhà đầu tư là tổ chức và 33 nhà đầu tư nước ngoài.

Các công ty chứng khoán đều hoạt động ổn định, có 7/8 công ty chứng khoán báo cáo lãi, tình hình tài chính nhìn chung là lành mạnh, khả năng thanh toán được đảm bảo. Cơ cấu doanh thu của các công ty chứng khoán đã chuyển biến theo chiều hướng tích cực, nếu như trước đây phần lớn doanh thu là từ lãi trên vốn kinh doanh (do không sử dụng hết vốn kinh doanh) thì hiện nay chiếm phần lớn trong doanh thu là từ nghiệp vụ môi giới và tự doanh.

Nhìn chung việc huy động vốn nhờ phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam còn quá nhỏ bé, hoạt động còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế , nhất là trong điều kiện hội nhập với kinh tế thế giới hiện nay. Việc niêm yết chứng khoán trên thị trường bộc lộ nhiều bất cập : số lượng chứng khoán niêm yết còn thấp, khối lượng trái phiếu chính phủ ban hành hàng năm còn thấp- thường ở mức trên dưới 2% GDP (năm 1998 là 2,93%, năm 1999 là 3,34%, năm 2000 là 2,72%). Trong khi ở các nước Malayxia, Inđônêxia,Thái Lan tỉ lệ dư nợ của trái phiếu chính phủ chiếm từ 20-30% GDP. Các trái phiếu chính phủ là ngắn hạn, trung hạn, chưa chuẩn hoá về mệnh giá, thời gian đáo hạn, ngày phát hành, …

4. Thị trường bất động sản

Thị trường bất động sản là một trong những thị trường rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Việc phát triển thị trường bất động sản có tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua các kênh như tạo ra kích thích cho đầu tư vào đất đai, nhà xưởng, chuyển bất động sản thành tài sản tài chính để phát triển kinh tế.

Nói đến bất động sản người ta hay nghĩ tới một loại tài sản đó là đất đai và việc phát triển thị trường bất động sản đã được đề cập trong Nghị quyết Đại hội IX Đảng “Hình thành và phát triển thị trường bất động sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, từng bước mở thị trường bất động sản cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài tham gia đầu tư ”.

Thị trường bất động sản mới được chính thức thừa nhận về pháp lý trong một số năm gần đây, khi Nhà nước xác định quyền sử dụng đất có giá và cho phép chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, … Tuy mới hình thành nhưng nó đã có những hoạt động rất sôi động, đặc biệt vào thời kỳ “sốt đất, sốt nhà”. Thị trường nhà ở phát triển sôi động, trên 75% số hộ gia đình đã được giao hoặc nhận quyền sử dụng đất để xây dựng nhà hay mua để ở, hơn 99% tổng số hộ gia đình có nhà ở. Thị trường kinh doanh mặt bằng xây dựng kinh doanh diện tích văn phòng, khách sạn … đã khởi sắc với những khoản đầu tư lớn của nhiều thành phần kinh tế vào lĩnh vực này (cuối năm 2001, riêng đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực kinh doanh khách sạn, văn phòng lên tới 7 tỉ USD ).

Tuy nhiên, thị trường bất động sản có nhiều khiếm khuyết, tác động tiêu cực, tỉ lệ giao dich không theo quy định của pháp luật là 70-80% các giao dịch về đất đô thị và các bất động sản khác, cung-cầu về bất động sản mất cân đối nghiêm trọng, nhu cầu của dân cư về nhà ở và nhu cầu của doanh nghiệp tư nhân về mặt bằng kinh doanh lớn nhưng chưa được đáp ứng đầy đủ, còn cung mặt bằng trong khu công nghiệp, chế xuất, diện tích khách sạn, văn phòng vượt quá cầu. Giá cả bất động sản “nóng, lạnh” thất thường, trong 10 năm qua thị trường bất động sản đã trải qua cơn sốt năm 1993, “đóng băng” trong những năm 1997-1999, rồi lại “sốt” vào cuối năm 2000, năm 2003 có hiện tượng này ở một số nơi. Ngân sách Nhà nước thất thu lớn vì phần lớn các giao dịch bất động sản diễn ra “ngầm”, chỉ riêng khoản thu do cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thời 1996-2000 bình quân khoảng 973 tỉ đồng/năm với tỉ lệ cấp đạt 16%, nếu cấp được 100% thì thu hàng năm về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lên tới 5-6 nghìn tỉ đồng. Điều đó chứng tỏ bộ máy quản lý của ta còn yếu.

5. Thị trường khoa học – công nghệ

Từ kinh nghiệm thành công của các nền kinh tế vài ba thập kỷ gần đây, các chuyên gia hang đầu thế giới đã đi đến kết luận là tăng trưởng kinh tế của một nước được quyết định bởi 3 yếu tố : vốn, công nghệ hiện đại và nguồn lực con người.

Công nghệ trong thời đại toàn cầu hoá như hiện nay có vai trò hết sức to lớn nó giúp đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, tạo nên qui trình sản xuất tiên tiến giúp ta có thể đi tắt, đón đầu bắt kịp với kinh tế các nước trong khu vực và trên thế giới.

Việc hình thành thị trường khoa học công nghệ ở Việt Nam còn rất đơn sơ, chưa có điều kiện phát triển , việc hình thành và phát triển các chợ công nghệ đang rất nhỏ, lẻ và còn manh mún.

Nhà nước mới chỉ có một số văn bản pháp luật liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp, khuyến khích sáng chế, cải tiến kỹ thuật … chưa có môi trường pháp lý đáp ứng đủ yêu cầu của sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên, chúng ta cũng đã rất cố gắng trong việc tiếp cận và phát triển thị trường này. Bằng chứng là tháng 8/2003 Bộ khoa học và công nghệ đã phối hợp với uỷ ban khoa học công nghệ và môi trường tổ chức hội thảo về đổi mới cở chế quản lý khoa học công nghệ. Ngày 22/10/2003 quỹ phát triển khoa học công nghệ quốc gia ra đời, địa điểm triển khai cho việc tạo lập thị trường khoa học công nghệ. Được phép của thủ tướng chính phủ, Bộ khoa học công nghệ đã phối hợp cùng với uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội tổ chức thành công chợ công nghệ thiết bị Việt Nam 2003-Tech mart 2003 (từ ngày 13-15/10/2003 tại Hà Nội), lần đầu tiên chợ công nghệ và thiết bị được tổ chức quy mô toàn quốc với sự tham gia của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, có 34 tổ chức nước ngoài, trên 2000 công nghệ, thiết bị chào bán với 400 gian hàng (vượt 150 gian so với chỉ tiêu), hơn 180.000 lượt khách tham quan, có 676 hợp đồng và bản ghi nhớ được ký trị giá 1000 tỉ đồng. Có 1260 công nghệ được tặng thưởng huy chương. Đó quả là những con số đáng khích lệ và cần được tổ chức nhiều chợ công nghệ hơn nữa, tổ chức thường xuyên hơn nữa để cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước có dịp trao đổi công nghệ, tiếp cận với công nghệ mới.

Thêm nữa, lực lượng khoa học nước ta dồi dào : có 233 đơn vị khoa học công nghệ trung ương, tổng số có 22.313 người, trong khoa học tự nhiên có 2538 người, khoa học nông lâm thuỷ sản có 5384 người, khoa học y dược 4026 người, khoa học kỹ thuật 7426 người, khoa học xã hội nhân văn có 2939 người. Như vậy, Việt Nam có cơ sở để phát triển mạnh các ngành khoa học công nghệ, đảm bảo tiền đề phát triển cho thị trường khoa học công nghệ.s