Thực trạng phát triển của các thành phần kinh tế hiện nay

Các thành phần kinh tế Việt Nam dựa trên ba hình thức sở hữu: Nhà nước, tư nhân, hỗn hợp.

1/ Thành phần kinh tế Nhà nước:

Thành phần này dựa trên chế độ sở hữu Nhà nước về những tư liệu sản xuất chủ yếu, gồm những đơn vị kinh tế mà toàn bộ số vốn thuộc về Nhà nước hoặc phần của Nhà nước chiếm tỉ trọng khống chế.

Theo số liệu thống kê, đến năm 1989 cả nước có 12.084 doanh nghiệp Nhà nước, với số vốn khoảng 10USD, trong đó các doanh nghiệp Nhà nước trong ngành công nghiệp chiếm 49,3% tổng số vốn xây dựng 9%, nông nghiệp 8,1%. Lâm nghiệp 1,2%. Giao thông vận tải 14,8%; thương nghiệp 11,57%, các ngành khác 5,9%.

Hàng năm, thành phần kinh tế Nhà nước đã tạo ra khoảng 35 – 40% GDP và 22 – 30% GDP, đóng góp từ 60 – 80% tổng số thu ngân sách.
Nhìn tổng quát, toàn bộ khu vực kinh tế Nhà nước chưa tự đảm bảo tái sản xuất giản đơn. Sự tăng trưởng hàng năm của khu vực kinh tế Nhà nước chủ yếu do việc gia tăng lượng vốn và lao động. Số đóng góp của khu vực kinh tế Nhà nước so với số chi của ngân sách Nhà nước cho khu vực này từ năm 1990 trở về trước là 1:3.

Sau ba năm cấu trúc lại và chuyển đổi cơ chế nhìn chung năm 1991 khu vực kinh tế Nhà nước có một số chuyển biến bước đầu. Các doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp do Trung ương quản lý trong ngành công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải và bưu điện viễn thông đã từng bước thích nghi với cơ chế thị trường nên đã đi dần vào thế ổn định.

Nhưng những điểm sáng này chưa nhiều. Sự khởi sắc của chúng vẫn chưa có cơ sở chắc chắn và lâu bền. Số doanh nghiệp Nhà nước đang trong tình trạng phá sản hoặc có nguy cơ phá sản, đình đốn vẫn chiếm quá nửa số doanh nghiệp Nhà nước hiện có.

Kết quả điều tra gần đây cho thấy, trong quá trình vận hành cơ chế quản lý mới, kinh tế Nhà nước cũng bộc lộ nhiều mặt yếu kém và hạn chế.
Một là, đại bộ phận doanh nghiệp Nhà nước còn gặp nhiều khó khăn như thiếu vốn, thiếu thị trường, bị thua lỗ triền miên, phải “ăn dần” vào vốn. Hiện nay, trong tổng số doanh nghiệp Nhà nước, chỉ khoảng 20 – 25% (chủ yếu là doanh nghiệp Nhà nước trung ương) có lãi, 30 – 35% hoà vốn, còn lại khoảng 40% (chủ yếu là doanh nghiệp địa phương) bị lỗ vốn. Số doanh nghiệp thua lỗ chiếm tới 38% số tài sản cố định và 33% số lao động. Tình hình phổ biến là thiếu việc làm, thừa nhân lực, đặc biệt trong thương nghiệp, xây dựng, thừa khoảng 40 – 50% số lao động hiện có. Hiện nay có khoảng 80 – 90% số doanh nghiệp Nhà nước quận, huyện, 50 – 60% số doanh nghiệp Nhà nước cấp tỉnh thuộc tất cả các ngành kinh tế đang trong tình trạng đình đốn, không có khả năng hoạt động. Số doanh nghiệp này hầu hết là quy mô bé, kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, không đồng bộ, sản phẩm làm ra kém chất lượng.

Hai là, nhìn chung các doanh nghiệp Nhà nước có hiệu quả thấp, mới huy động khoảng 40 – 50% năng lực sản xuất. Hệ số sinh lời của vốn cố định trong kinh tế Nhà nước bình quân chỉ đạt 7% năm, trong đó, ngành công nghiệp 3%, giao thông vận tải 2%, thương nghiệp 2%. Hệ số sinh lời vốn lưu động cũng chỉ đạt 11%/ năm, trong đó các ngành tương ứng đạt 10,6%, 9,4%, 9,5%. Mức tiêu hao vật chất cho một đơn vị giá trị tổng sản phẩm xã hội cao hơn so với kinh tế ngoài quốc doanh và gấp 1,3 – 2,2 lần mức trung bình trên thế giới.

Mặt hàng làm ra đơn điệu, chậm cải tiến mẫu mã, chất lượng thấp và không ổn định, chỉ khoảng 15% số loại sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, 65% đạt tiêu chuẩn trung bình, 20% đạt chất lượng kém và quá kém.

Ba là, tài sản, vốn của Nhà nước giao cho doanh nghiệp phổ biến là không được bảo tồn và phát triển, năng lực sản xuất không được mở rộng và tái tạo, ngược lại bị thất thoát, hư hỏng, lãng phí nhiều nhưng không biết quy trách nhiệm về ai.

Trong những năm gần đây, không ít doanh nghiệp đã lợi dụng những kẽ hở của cơ chế quản lý mới chưa được hoàn chỉnh và đồng bộ để mua đi bán lại tài sản, vật tư, khai báo sai doanh thu, định ra những chế độ chi tiêu, phân phối rất tuỳ tiện trong đơn vị khác để chia chác, làm giàu cho cá nhân, vi phạm lợi ích Nhà nước.

Tình hình nêu trên đã làm cho vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước bị lu mờ, nhất là trong điều kiện Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế khác phát triển, tạo ra môi trường cạnh tranh theo cơ chế thị trường.

Vì vậy việc đánh giá kinh tế Nhà nước ở nước ta cần phải đứng trên quan điểm lịch sử mà phán xét một cách khách quan, toàn diện. Không nên chỉ đơn thuần dựa vào những yêu cầu của một nền kinh tế hàng hoá mà phê phán có tính một chiều, phủ nhận mọi sự đóng góp quan trọng của kinh tế Nhà nước, thậm chí đi đến chỗ cực đoan muốn xoá bỏ nó. Phải nghiêm túc vạch ra những yếu kém của nó để khắc phục, làm cho kinh tế Nhà nước chẳng những hoạt động có hiệu quả về mặt kinh tế, mà còn làm tròn được trách nhiệm về mặt xã hội.

2/ Thành phần kinh tế tập thể:

Thành phần kinh tế tập thể dựa trên sở hữu hỗn hợp gồm các đơn vị kinh tế do những người lao động tự nguyện góp vốn, góp sức kinh doanh theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng cùng có lợi.

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp, các loại hình hợp tác này được Nhà nước bảo trợ áp dụng nhiều chính sách ưu tiên cung cấp tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu, giá cả, bảo tiêu. Đồng thời nó phải thực hiện các nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh theo các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao. Thành phần kinh tế tập thể được xem là trợ thủ đắc lực, là bạn đồng hành của các doanh nghiệp Nhà nước.

a)Kinh tế tập thể trong nông nghiệp:

Trước yêu cầu khách quan về việc đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp, ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị đã đề ra Nghị quyết 10 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp nhằm giải quyết tốt hơn lợi ích của người lao động.

Với chính sách “khoán 10”: giao ruộng, giao đất cho người nông dân, làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu, quá trình sản xuất nói chung được khép kín trong từng hộ. Theo kết quả điều tra năm 1990việc phân chia lợi ích trong hợp tác xã hợp lý hơn lợi ích xã viên tăng lên (Nhà nước 12,8%, tập thể 16,54%, xã viên được nhận 70,59%, sau khi trừ chi phí còn được hưởng 44,65%). Đây là một trong những yếu tố cơ bản đưa đến chỗ sản lượng lương thực bình quân thời kỳ 1989 – 1992 đạt 22,2 triệu tấm/năm, riêng năm 1992 đã đạt 24 triệu tấn, biến nước ta từ chỗ thiếu lương thực triền miên đến đủ và có thừa.

ở một số nơi đã xuất hiện một số loại hình hợp tác xã kiểu mới và có số người nông dân tự nguyện tham gia và góp cổ phần, lời ăn, lỗ chịu. Những loại hình này đang phát huy tác dụng và làm ăn có hiệu quả.

Tuy nhiên khi hoàn cảnh và điều kiện thay đổi mô hình này đã bộc lộ những thiếu sót, yếu kém sau:

Thứ nhất: chúng ta tiến hành cải tạo nông nghiệp chủ ý nhiều đến thay đổi chế độ sở hữu với tư liệu sản xuất, mà hầu như thiếu sự quan tâm đến việc tổ chức lại sản xuất theo phương thức của nền sản xuất tiến bộ, và không coi trọng đúng mức lợi ích cá nhân của người lao động, do đó người nông dân không gắn với ruộng đất, bởi vì phần thu nhập không những quá ít ỏi mà còn mang tính bình quân giữa những người đóng góp công sức nhiều với người đóng góp ít.

Thứ hai: Bộ máy quản lý hợp tác xã cồng kềnh, quan liêu, cán bộ nói chung thiếu năng lực tổ chức, quản lý do ít được đào tạo và chất lượng đào tạo kém.

Vì vậy để có thể phát triển thành phần kinh tế tập thể có hiệu quả chúng ta phải coi trọng kết hợp hài hoà giữa ba lợi ích: xã hội, tập thể, cá nhân, vì đó là cơ sở để phát huy các động lực cá nhân, tập thể, xã hội. Mỗi lợi ích có phạm vi nhất định, song sự thống nhất giữa ba lợi ích sẽ phát huy ảnh hưởng tích cực đến kết quả sản xuất.

Với sự nghiệp đổi mới một cách căn bản và toàn diện, thành phần kinh tế tập thể trong nông nghiệp sẽ tạo ra sức sản xuất mới, đưa nông nghiệp và nông thôn phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

b)Trong công nghiệp:

So hợp tác xã thương nghiệp từ 32.034 năm 1988 giảm còn 21.901 năm 1989; 13.086 năm 1990 và 9.660 năm 1991. Mức sản xuất cua những hợp tác xã này năm 1989 giảm 36,1% và năm 1991 giảm 47% so với năm trước. Vì lẽ đó, mức đóng góp của chúng trong giá trị tổng sản lượng của toàn ngành công nghiệp tính theo giá cố định năm 1982 giảm dần, năm 1988 giảm 23,9%, năm 1989 giảm 15,8%, năm 1990 giảm 13,7% và năm 1991 giảm 6,8%.

c)Trong thương nghiệp:

So với năm 1986, đến năm 1991 chỉ còn khoảng 25% số hợp tác xã mua bán còn hoạt động, còn gắn 3.300 hợp tác xã đã giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động. Tương ứng với tình hình này, vai trò của hợp tác xã mua bán trong thị trường xã hội cũng giảm sút nghiêm trọng: tổng mức bản lề hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội từ 25 – 30% những năm 1980 – 1985, xuống còn 14,6% năm 1986: 12,6%; năm 1987: 9,2% năm 1988 6,1% năm 1989: 2,7% năm 1990 va chỉ còn 1,8% năm 1991.

Sở dĩ các hợp tác xã mua bán lâm vào tình trạng hiện nay là do:

  • Trong quá trình thành lập và phát triển ca s hợp tác xã đã không nhất quán những nguyên tắc cơ bản của tổ chức kinh tế tập thể là tự nguyên, cùng có lợi, quản lý dân chủ. Vừa qua, nhiều tổ chức hợp tác xã đã hoạt động cũng như mô hình thương nghiệp quốc doanh.
  •  Phương thức hoạt động không bám sát mục tiêu và nhiệm vụ khí sáng lập, nhiều tổ chức hợp tác xã dần dần trở thành tổ chức đi buôn kiếm lời cho mỗi nhóm người.
  • Vốn ít, không am hiểu thị trường nên hoạt động bị thua lỗ, mất vốn.
  •  Nhận thức của các cấp quản lý, nhất là chính quyền huyện, tỉnh, không rõ đối với loại hình kinh tế này, hoặc can thiệp quá sâu vào hoạt động của nó, hoặc sát nhập, giải thể một cách tuỳ tiện.
  • Phát triển tổ chức tràn lan. ở những nơi hợp tác xã được xây dựng xuất phát từ phong trào, chứ không vì nhu cầu người tiêu dùng: do vậy nhiều hợp tác xã ở thành phố cho tư thương đội lốt kinh doan nhằm trốn thuế.

Tuy các hợp tác xã mua bán đã phân rã hàng loạt, song không thể vì vậy mà phủ nhận hoàn toàn vai trò của loại hình này. Trước hết cần khẳng định, trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xây dựng như nước ta, thì hợp tác xã là hình thức tổ chức kinh tế hợp lý nhất. Nó dễ tập hợp các hộ nông dân lại để sản xuất, kinh doanh trên nguyên tắc bình đẳng tự nguyện, cùng có lợi. Trong thời gian tới, cần từng bước củng cố loại hình hợp tác xã mua bán ở nước ta, nhất là ở nông thôn.

Quan điểm đổi mới với hợp tác xã là:

  •  Trả lại cho hợp tác xã cái bản chất của mình – là tổ chức kinh tế tự nguyên của nhân dân lao động, thực hiện chức năng mối dây liên kết những người sản xuất nhỏ với thị trường.
  •  Hợp tác xã hoạt động tự do, bình đẳng với các thành phần khác trên thị trường. Nhưng do điều kiện và vị trí của mình, hợp tác xã cần chú trọng thành lập mối liên hệ kinh tế với thương nghiệp quốc doanh.
  •  Quán triệt nguyên tắc quản lý của kinh tế tập thể.

3/ Kinh tế tư nhân:

Dựa trên hình thức sở hữu tư nhân. Theo cách hiểu truyền thống trước đây thì kinh tế tư nhân (bao gồm thành phần tư bản tư nhân và kinh tế tư nhân của những người sản xuất nhỏ) là thành phần kinh tế không tiến bộ, phải nhanh chóng xoá bỏ hoặc cải tạo bằng mọi giá.

Quan điểm này đã lỗi thời, xét cả trên phương diện lý luận thực tiễn nhưng nó vẫn còn in đậm những dấu ấn trong suy nghĩ và hành động của không ít người trong số chúng ta. Điều đó biểu hiện ở chỗ, mặc dù tự tồn tại và phát triển lâu dàu của tư nhân đã được thừa nhận, nhưng trong thực tiễn, tình trạng phân biệt đối xử “kinh tế quốc doanh là con đẻ, kinh tế tư nhân là con ghẻ” tuy không còn nặng nề, nghiêm trọng như trước đây, nhưng vẫn còn khá phổ biển.

So các với các doanh nghiệp Nhà nước các doanh nghiệp tư nhân vẫn bị thua thiệt trong việc vay vốn, cấp tín dụng, thuê đất, xuất nhập khẩu, tìm kiếm thị trường và bạn hàng ở nước ngoài, thuê bao điện thoại, Fax v.v… Một trong những điều nhức nhối nhất của các nhà doanh nghiệp tư nhân là họ vẫn bị liệt vào giai cấp bóc lột.

Sự phát triển rầm rộ nhất của kinh tế tư nhân với biến tương loại hình xí nghiệp và công ty tư doanh là vào cuối năm 1988 cho đến nửa năm 1990.
Lúc bấy giờ cả nước có gần 500 xí nghiệp và công ty tư doanh nhiều nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh với 235 cơ sở, số vốn đầu tư của mỗi cơ sở từ 100 triệu trỏ lên, thành phố Hà Nội 77 cơ sở với số vốn đầu tư từ 30 triệu trở lên.
Có thể nói, tình hình chung của kinh tế ngoài quốc doanh hiện nay là hoạt động đang khó khăn, phát triển chậm lại, dè dặt hơn, cân nhắc hơn.

Thành phần kinh tế tư nhân của những người sản xuất nhỏ chiếm khá đông trong cả nước. Sau khi Nhà nước ban hành Luật doanh nghiệp và Luật công ty (năm 1991) số hộ cá thể tăng lên đến gần 50 vạn hộ và cuối năm 1992 là hơn 70 vạn hộ.

Loại hình kinh tế cá thể đâu có ý nghĩa chiến lược tình thế trong những năm trước mắt, nhanh chóng tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người thất nghiệp, nâng cao mức sống cho dân cư đang quá nghèo, nhưng có nhược điểm là quy mô nhỏ, vốn ít, công nghệ còn lạc hậu, khó làm giàu, ít có khả năng trở thành doanh nghiệp lớn có vai trò làm tăng trưởng nền kinh tế đất nước chưa thể hoà nhập vào nền kinh tế thị trường mở cửa, chưa có khả năng tiếp thị thị trường quốc tế nên không có chính sách hỗ trợ của Chính phủ.

Nhà nước cũng nên có chính sách hỗ trợ cho kinh tế tư nhân, nếu ngành đó, doanh nghiệp đó góp phần tăng trưởng kinh tế. Việc cho tư nhân vay vốn chỉ ở mức 5-10% tổng số vốn cho vay là con số chưa thu phục được nhân tâm. Sự phân biệt trong lãi suất ngân hàng cũng vậy. Chính sách đúng làm cho dân yêu tâm, tin tưởng, thấy có lợi thì họ sẽ cố gắng sản xuất làm giầu cho chính mình và cho đất nước.

Tuyệt đại bộ phận các nước phát triển kinh tế thị trường đều coi sở hữu tư nhân là một động lực chủ yếu để phát triển nền kinh tế. Nền kinh tế thị trường ở các nước này được cấu trúc từ hai khu vực chủ yếu: kinh tế tư nhân và kinh tế Nhà nước. Quan hệ của các khu vực kinh tế trong cơ cấu nền kinh tế thì trường là chấp thuận bình đẳng với tư cách là các lực lượng kinh tế tham gia thị trường, nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản của nền kinh tế: sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai. Định hướng hoạt động của nền kinh tế thị trường là sự phối hợp một cách có hiệu quả nhất hoạt động của các khu vực kinh tế. Khu vực kinh tế Nhà nước không thể hoạt động có hiệu quả nếu đặt nó biệt lập và đối kháng theo kiểu “ai thắng ai” với khu vực kinh tế tư nhân và ngược lại, khu vực kinh tế tư nhân không thể nào phát huy tốt hiệu năng nếu nó không được khu vực kinh tế Nhà nước làm “giá đỡ” tạo tiền đề và môi trường.

Tóm lại, vic đánh giá và phát triển thành phần kinh tế tư nhân trên quan điểm toán điệp của chủ nghĩa Mác- Lênin, mà trước hết là căn cứ vào sự đóng góp của khu vực này đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế và mối tác động qua lại với khu vực kinh tế khác. Đánh giá càng đúng đắn và toàn diện, Nhà nước càng có cơ sở để hoạch định các quan điểm quản lý và chính sách quản lý của mình với khu vực kinh tế này trong tương lai.

4/ Thành phần kinh tế tư bản Nhà nước:

Dựa trên hình thức sở hữu hỗn hợp. Đó là sự hoạt động phối hợp giữa Nhà nước với tư bản nước ngoài qua các hợp đồng góp vốn đầu tư dưới hình thức liên doanh và hợp doanh.
Các xí nghiệp liên doanh và hợp doanh với nước ngoài đã thu hút khoảng gần 14.2 nghìn lao động trực tiếp sản xuất và hàng vạn lao động vệ tinh khác.

Chúng đã có những đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng của nền kinh tế, đặc biệt là góp phần từng bước cân bằng cán cân ngoại thương, tạo điều kiện cho chúng ta học tập kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp của cả nước.
Nhưng trong quá trình phát triển, lực lượng kinh tế này cũng bộc lộ một số hạn chế:

  •  Khoảng 70-75% dự án có quy mô dưới 7 triệu USD, điều đó chứng tỏ là công ty đầu tư vào Việt Nam phần lớn là công ty nhỏ, ít vốn, tìm kiếm những cơ hội đầu tư có thể đem lại lợi nhuận ngay và thu hồi vốn nhanh
  •  Vốn tập trung liên doanh và hợp doanh tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Vũng Tàu.
  •  Số thuế phải nộp của các xí nghiệp có vốn đầu tư với nước ngoài còn rất hạn hẹp, chưa phản ánh đúng thực tế hoạt động của chúng. Không ít xí nghiệp còn khai man sổ sách chứng từ.