Thực trạng phát triển xuất khẩu nông sản của nước CHDCND Lào trước khi tham gia AEC

Kim ngạch XK: Trong gia đoạn 2003-2015 với chính sách đổi mới, mở cửa, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế quốc tế và thực hiện chủ trương khuyến khích XK, hoạt động XK nông sản chủ lực của CHDCND Lào đã có những bước tiến vượt bậc. Các mặt hàng nông sản chủ lực XK đã có mặt trên thị trường của hơn 20 nước thuộc khắp các châu lục. Số lượng, chất lượng, chủng loại mặt  hàng nông sản chủ lực XK đã có những cải thiện đáng kể. Cơ cấu mặt hàng XK đã dần dần được thay đổi theo hướng phát huy lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc tế. XK nông sản chủ lực đã  góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế xã  hội của CHDCND Lào.

Thành tựu mà CHDCND Lào đạt được trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản chủ lực hơn 10 năm qua (2003-2015) là rất đáng kể. Điều này được thể hiện rõ qua sản lượng và giá trị xuất khẩu nông sản chủ lực ngày càng tăng qua các năm. Theo hình 3.3, tốc độ xuất khẩugiai đoạn 2003-2005 ở mức trung bình, đến 2007 kim ngạch XK hàng nông sản chủ lực đạt 39,59 triệu USD tăng rất cao so với năm 2006 (tăng 2,37 lần). Năm 2008 kim ngạch đạt 36,28 triệu USD giảm 8% so với năm 2007 và tiếp tục giảm từ năm 2009-2010. Nguyên nhân dẫn đến hiệu quả như vậy là do cuộc khủng hoàng kinh tế thế giới ảnh hưởng tới giá nông sản XK của nước CHDCND Lào, đặc biệt là cà phê. Năm 2011 số kim ngạch đạt 78,79 triệu USD tăng 1,2 lần so với năm 2010 và năm 2014 đạt 105,8 triệu USD tăng rất kiêm tốn 11% so với năm 2013 và năm 2015 kim ngạch XK đạt 95,07 triệu USD giảm 10% so với năm 2014 và năm 2016 kim ngạch XK đạt 98.56 triệu USD tăng 4% so với năm 2015.

Tình hình XK nông sản chủ lực theo mặt hàng/sản phẩm: Tổng kim ngạch XK nông sản chủ lực giai đoạn 2003-2015 đạt hơn 700 triệu USD. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn 2003-2015 tính năm 2003 là năm gốc, tốc độ tăng trưởng giai đoạn khoảng 729,63%, cụ thể giai đoạn 2010-2014 tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nông sản tương đối mạnh mẽ, lượng tăng tuyệt đối khoảng 66,96 triệu USD tương ứng với tốc độ tăng tương đối (tốc độ tăng định gốc, năm 2010 là năm gốc) khoảng 272,39%. Trong đó, đóng góp cụ thể của 3 mặt hàng cà phê, rau quả và gạo vào kết quả này như sau:

Cà phê: Kim ngạch XK cà phê giai đoạn 2003-2015 đạt 478,52 triệu USD, chiếm 72% của tổng kim ngạch XK nông sản chủ lực và trở thành mặt hàng XK chính của nước CHDCND Lào trong giai đoạn này. Cà phê của nước CHDCND Lào nổi tiếng về mùi vị và là cà phê sạch không có hóa chất, nhưng sức cạnh tranh vẫn thấp do thiếu sự đầu tư công nghệ sau thu hoạch, thiếu thiết bị bảo quản hiện đại, việc thu hoạch và bảo quản thủ công khiến chất lượng thấp, dẫn đến giá cả thấp hơn khoảng 10% so với thế giới. Như trong bảng 3.4 có thể thấy năm 2015 kim ngạch XK đạt 59,85 triệu USD giảm xuống 26% so với năm 2014 (vì giá cả cà phê thế giới giảm liên tục ảnh hưởng rất nhiều tới giá cà phê XK của nước CHDCND Lào). Vì vậy, dù được ưu đãi GSP từ nhiều nước, việc sản xuất cà phê vẫn chưa phát triển và kết quả XK cà phê, dù nhìn chung tăng trưởng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch XK nông sản chủ lực, nhưng vẫn được đánh giá là dưới tiềm năng.

Rau quả: Tổng kim ngạch xuất khẩu từ 2003-2015 đạt 133,02 triệu USD, chiếm tỷ trọng 20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản chủ lực. Bảng dữ liệu cho thấy mức tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản rau quả của CHDCND Lào từ 16 %-36% trong giai đoạn 2003-2015, đặc biệt năm 2008  kim ngạch xuất khẩu đạt 7,70 triệu USD tăng 30% so với năm 2007, năm 2010 kim ngạch XK đạt 10,38 triệu USD tăng 16% so với năm 2009, năm 2014 kim ngạch đạt 21,25 triệu USD tăng 10,5% so với năm 2013 và năm 2015 kim ngạch XK đạt 22,55 triệu USD tăng 6% so với năm 2014

Gạo: Đây là mặt hàng xuất khẩu đứng thứ 3 sau Rau quả với tổng kim ngạch xuất khẩu là 53,98 triệu USD, chiếm 8% của tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản chủ lực trong giai đoạn 2003-2015, năm 2008 kim ngạch xuất khẩu 4,96 triệu USD so với năm 2007 tăng 26%, năm 2010 đạt 6.01 triệu USD, giảm xuống 11%, năm 2014 tăng lên 11,7% so với năm 2013, đến năm 2015 rất bới ngờ tổng kim ngạch XK đạt 12,67 triệu USD tăng cấp 2 lần so với 2014 và tăng 87% so với năm giữa nhiệm kỳ 2009. Đây là kết quả tốt và thể hiện đến sự phát triển của ngành XK gạo của nước CHDCND Lào

Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu theo các mặt hàng nông sản theo cơ cấu sản phẩm của nước CHDCND Lào

Kết quả tính toán của tác giả cho thấy, có sự thay đổi về tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nông sản theo cơ cấu sản phẩm của nước CHDCND Lào trong giai đoạn 2003-2015, trong đó về tổng thể, tốc độ kim ngạch xuất khẩu của nước CHDCND Lào có xu hướng tăng trong kỳ nghiên cứu, tuy nhiên trong giai đoạn 2003 đến 2005, tốc độ tăng trưởng không ổn định trong kỳ nghiên cứu ở các mặt hàng nông sản. Cụ thể như sau, năm 2005 so với năm 2004, tốc độ kim ngạch xuất khẩu nông sản có xu hướng giảm với mặt hàng cà phê nhưng có xu hướng tăng với mặt hàng gạo và mặt hàng rau quả, năm 2015 so với năm 2014, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh ở mặt hàng gạo với tốc độ tăng trưởng so sánh khoảng 201,67% so sánh năm 2015 so với năm 2014.

Tình hình XK hàng nông sản theo khu vực thị trƣờng: Mở rộng và đa dạng hóa thị trường, trong khi tiếp tục tăng cường vị trí ở các thị trường hiện có là một trong những mục tiêu chủ yếu trong XK hàng nông sản chủ lực của CHDCND Lào.

Trong giai đoạn 2003-2015, kim ngạch XK nông sản chủ lực của nước CHDCND Lào sang các thị trường liên tục tăng trưởng. Đó là kết quả của việc thực hiện chính sách mở cửa, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ thương mại với các nước trong khu vực và thế giới. Thị trường XK nông sản chủ lực chính của nước CHDCND Lào  là Châu Á, EU và Mỹ, trong đó Châu Á chiếm 64%, EU chiếm 32,5% và Mỹ chiếm 3,5%. Số liệu bảng 3.6 cho thấy giá trị XK của nước CHDCND Lào giai đoạn 2003- 2015 theo cơ cấu thị trường XK đã có nhiều thay đổi bắt đầu từ năm 2003. Khu vực Châu Á trở thành thị trường trọng điểm đối với XK nông sản chủ lực của nước CHDCND Lào, trong khi kim ngạch XK nông sản chủ lực sang thị trường EU và Mỹ có xu hướng tăng nhưng chậm hơn thị trường châu Á.

  • Thị trƣờng Châu Á: gồm có các nước: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và các nước Đông Nam Á. Nhật Bản là một nước công nghiệp phát triển có tổng thu nhập và thu nhập bình quân đầu người rất cao nhưng với đặc thù dân số già và có tính dân tộc cao, yêu cầu của thị trường Nhật Bản có thể nói là khắt khe và khác biệt so với các nước khác. Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Châu

Á tăng khoảng hơn 65 triệu USD trong đó giai đoạn 2010-2014, tốc độ tăng tương đối định gốc (năm gốc năm 2010) giai đoạn năm năm này đạt khoảng hơn 314% tương ứng khoảng 49,44 triệu USD.

  • Thị trƣờng EU: Liên minh Châu Âu (EU) là thị trường xuất khẩu nông sản chủ lực của CHDCND Lào, với kim ngạch xuất khẩu năm 2014 đạt 32,59 triệu USD, đây là thị trường rộng lớn và có nhiều tiềm năng nhưng cũng có những yêu cầu rất khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm. Mặt hàng NSCL của nước CHDCND Lào xuất sang thị trường EU gồm các nước: Bỉ, Pháp, Đức, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Thuỵ Điển, Thuỵ Sỹ, Romania, Ý, Slovenia và Tây Ban .. Đây là các nước có mức tiêu dùng cao nhất so với trên thế giới, đồng thời dân số các nước này lại trẻ, vì vậy sự năng động cũng được thể hiện ở sự đa dạng trong việc lựa chọn rất nhiều chủng loại của mặt hàng nông sản chủ lực.
  • Thị trƣờng Mỹ: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (The United States of America) là khối liên hiệp nhiều bang của Hoa Kỳ được thành lập năm 1789, với diện tích lãnh thổ trên 9 triệu km2 và dân số hơn 324 triệu người (năm 2016). Mỹ là một thị trường lớn nhất thế giới, luôn nhập siêu về hàng hoá và xuất siêu về dịch vụ nên trong quan hệ thương mại luôn tìm cách ép buộc các nước mở cửa thị trường dịch vụ, nhưng lại bảo hộ mậu dịch đối với hàng hoá sản xuất trong nước bằng nhiều luật, chính sách và các công cụ khác nhau. Kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá với Mỹ bị ràng buộc bởi nhiều đạo luật và do các cơ quan khác nhau thuộc Chính phủ Liên bang hoặc các bang quản lý. Trước hết đó là các qui định về thuế cũng có các mức khác nhau như thuế theo qui chế tối huệ quốc, thuế theo chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) dành cho các nước đang phát triển, thuế cho các hiệp định thương mại tự do và thuế suất thông thường.

Các thị trường xuất khẩu mục tiêu của NSCL nước CHDCND Lào như EU, Mỹ, Châu Á bao gồm các phân đoạn thị trường cơ bản như sau:

  • Nhà sản xuất lớn, thường đòi hỏi và có nhu cầu mua hàng nông sản dựa trên những mặt hàng chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn lương thực và đòi hỏi chuẩn mực rất chặt chẽ.
  • Bộ phận trung gian có thu nhập tương đối cao, có phần nào dễ và thoáng hơn về nhu cầu măt hàng NSCL (cà phê, rau quả và gạo…). Đối tượng khách hàng này rất quan tâm đến chất lượng và giá cả phù hợp.
  • Bộ phận thị trường truyền thống trong khu vực, thường có nhu cầu tiêu dùng không cao, chủ yếu họ quan tâm đến giá cả khi lựa chọn mặt hàng NSCL của nước CHDCND Lào.

Trong các phân đoạn thị trường kể trên, hàng NSCL của nước CHDCND Lào nên chọn phân đoạn thị trường người tiêu dùng tại các phân đoạn thị trường thứ 2   và 3, là những phân đoạn có đòi hỏi ở mức thấp và trung bình trên thị trường. Đây   là đoạn thị trường mà mức hấp dẫn của nó phù hợp với năng lực sản xuất – kinh doanh cũng như hiệu lực các chiến lược, công cụ marketing, nhất là mặt  hàng NSCL của nước CHDCND Lào chủ yếu xuất khẩu dựa trên phương thức trực tiếp và hợp tác xuất khẩu với các nhà nhập khẩu. Hiện nay, mặt hàng NSCL của nước CHDCND Lào đã chú trọng sản xuất theo công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực sản  xuất,  phát triển các mặt hàng có chất lượng, đáp ứng được nhu cầu bộ phận người tiêu dùng tại phân đoạn thị trường thứ 1, thứ 2. Trong giai đoạn tới (2018-2020), các mặt hàng nông sản chủ lực của nước CHDCND Lào sẽ tập trung chủ yếu vào 2 phân  đoạn thị trường nêu trên.

Kết quả tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản theo khu vực thị trường của nước CHDCND Lào trong giai đoạn 2003-2015 như sau:

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có sự gia tăng về tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản theo khu vực thị trường, sự thay đổi không đều giữa các năm và các thị trường xuất khẩu khác nhau. Điển hình cho sự thay đổi tương đối mạnh mẽ đó là thị trường Mỹ, khi năm 2006 tốc độ tăng trưởng so với năm 2005 số tuyệt đối khoảng 2531%, sau đó có sự biến động khi so sánh ở những năm sau, năm 2015 kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ tăng khoảng 185,07% so với năm 2014.