Thực trạng phương pháp xác định chi phí cho các đối tượng chịu chi phí trong doanh nghiệp

– Xác định đối tượng kế toán chi phí

Kết quả khảo sát xem phụ lục 2.1e cho thấy các công ty xi măng đều tập hợp chi phí theo quá trình sản xuất và sử dụng phương pháp xác định chi phí theo chi phí thực tế phát sinh. Đối tượng tập hợp chi phí là từng phân xưởng, đối tượng tính giá thành là bán thành phẩm clinker 33% và đối tượng tính giá thành từng loại sản phẩm (PCB30, PCB40, MC25…) là 100%. Đối với các chi phí trực tiếp liên quan đến đối tượng tập hợp chi phí các công ty xi măng thực hiện phương pháp tập hợp trực tiếp, còn đối với các chi phí chung được tập hợp chung và phân bổ cho các đối tượng theo các tiêu thức phù hợp.

– Đối với lĩnh vực sản xuất các chi phí trực tiếp bao gồm:

(1) Chi phí NVL trực tiếp: thường chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong giá thành sản phẩm được kế toán mở sổ theo dõi chi tiết đến từng sản phẩm, cụ thể:

+ Chi phí NVL chính trực tiếp: là đá vôi, đất sét, bô xit, thạch cao, quặng, clinker, phụ gia…kế toán mở sổ chi tiết cấp 2, cấp 3 của tài khoản 621, thường là 621.1xx

+ Chi phí vật liệu phụ: là vỏ bao, bi đạn, gạch chịu lửa, dầu, mỡ bôi trơn, vật liệu phụ khác…kế toán mở sổ chi tiết tài khoản 621.2xx

+ Nhiên liệu: là các loại vật liệu dùng để cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất như than, dầu FO, dầu DO… kế toán mở sổ chi tiết tài khoản 621.3xx chi tiết cho các phân xưởng, sản phẩm.

(2) Chi phí NCTT: Các công ty xi măng đều áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm. Tại mỗi phân xưởng, tổ sản xuất được các công ty xây dựng đơn giá khoán cho toàn bộ công nhân trực tiếp sản xuất còn nhân viên quản lý phân xưởng, tổ sản xuất thì các công ty áp dụng hình thức trả lương vừa theo thời gian vừa theo sản phẩm tại phân xưởng hay tổ đội mình phụ trách. Kế toán mở sổ chi tiết tài khoản 622 ở từng phân xưởng, bán thành phẩm, từng sản phẩm để theo dõi tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất.

– Đối với chi phí chung và gián tiếp đó là:

(1) Chi phí sản xuất chung: chi phí này thường chiếm tỷ trọng 13 – 16% trong giá thành sản phẩm. Là các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất các sản phẩm xi măng nhưng không phải là chi phí trực tiếp, như chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu dùng cho phân xưởng, chi phí công cụ dụng cụ cho các phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ cho các phân xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác tại các phân xưởng sản xuất;

(2) Chi phí bán hàng: là các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm xi măng, phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm xi măng, như chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương ở bộ phận bán hàng, chi phí vật tư ở bộ phận bán hàng, chi phí khấu hao TSCĐ ở bộ phận bán hàng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền ở bộ phận bán hàng;

(3) Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các chi phí phát sinh chung của các Công ty sản xuất xi măng tại các phòng, ban nhằm quản lý hoạt động SXKD;

(4) Chi phí hoạt động tài chính: là các chi phí phát sinh liên quan đến các khoản lãi vay của ngân hàng, cá nhân hoặc các tổ chức tài chính tương tự, chi phí phát sinh liên quan đến các khoản đầu tư tài chính…

(5) Chi phí khác: là các chi phí phát sinh không thường xuyên của các công ty sản xuất xi măng như các chi phí nhượng bán, thanh lý TSCĐ; tiền phạt vi phạm hành chính…

Chi phí gián tiếp được kế toán mở sổ theo dõi, tập hợp trên tài khoản 627 theo từng phân xưởng sau đó phân bổ cho từng đối tượng tính giá theo tiêu thức hợp lý

          – Phương pháp phân bổ chi phí chung

Theo Bảng tổng hợp kết quả khảo sát phụ lục 2.1e, tất cả các công ty sản xuất xi măng đều phân bổ chi phí chung theo chi phí NVLTT. Đây cũng là tiêu thức phù hợp nhất vì chi phí NVLTT chiếm tỷ trọng cao và được bỏ vào phần lớn ở ngay giai đoạn đầu của quy trình sản xuất.