Thực trạng quỹ BHXH ở Việt Nam thời gian qua.

1. Khái quát tình hìnhquỹ BHXH Việt Nam trong thời gian qua.

1.1.  TrướcNghị định 43/CP/1993.

Trong giai đoạn này BHXH Việt Nam được hoạt động dựa trên các sắc lệnh của Nhà nước và điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 vì vậy việc thu, chi và quản lý Quỹ BHXH cũng phải dựa trên các văn bản này.

Các văn bản này ra đời trong hoàn cảnh nước ta đang tiến hành một cuộc kháng chiến chống bọn giặc ngoại xâm và thực hiện một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Vì vậy nó quy định tính chất và đặc điểm của hệ thống văn bản về BHXH nói chung và các quy định về tổ chức thu chi và quản lý quỹ BHXH nói riêng.

Trong thời gian này quỹ BHXH hầu như có thể nói là tồn tại trên danh nghĩa, nó nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo hộ hoàn toàn. Điều này có thể khẳng định bởi nguồn thu chủ yếu của quỹ đó là từ các doanh nghiệp và nhà nước đóng góp, người lao động không phải đóng góp. Tuy nhiên, đây là thời kỳ bao cấp nên các doanh nghiệp này đều là doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước bao cấp hoàn toàn từ ngân sách nhà nước, vì vậy nhìn chung mà nói quỹ BHXH nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo trợ hoàn toàn.

Việc sử dụng quỹ BHXH dùng cho hai mục đích đó là chỉ trợ cấp các chế độ và chi quản lý hành chính sự nghiệp. Theo Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 thì hệ thống BHXH của nước ta bao gồm 6 chế độ, đó là: Thai sản, ốm đau, tai nạn lao động và bênh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, mất sức lao động. Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với nhiều chính sách xã hội khác, chính vì vậy việc chi BHXH cho các chế độ này có nhiều tiêu cực và bất hợp lý, đặc biệt là chế độ mất sức lao động và hưu trí (có những người về hưu ở tuổi 40 hay những người nghỉ mất sức lao động lại khoẻ hơn nhiều người lao động khác). Do có nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ lao động, công đoàn, Bộ tài chính) nên việc quản lý được tiến hành chồng chéo lên nhau, kém hiệu quả, chi phí quản lý bị đẩy lùi lên cao. Do bộ máy quản lý cồng kềnh, kém năng lực. Điều này khiến cho chi BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Khi nước ta bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (năm 1986). Các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cả nước không còn được bao cấp, phải tiến hành hạch toán độc lập. Lúc này hệ thống BHXH Việt Nam nói chung và việc quản lý quỹ BHXH nói riêng đã bộc lộ ra nhiều khuyết điểm lớn. Thu BHXH từ các doanh nghiệp trong cả nước là không đáng kể. Việc chi BHXH phần lớn vẫn do ngân sách nhà nước đảm nhận. (năm 1987 97,23% do ngân sách nhà nước đảm nhận chỉ thu được 2,77%) điều này đòi hỏi một nhu cầu rất bức thiết đó là phải đổi mới các chính sách về BHXH nói chung và việc tổ chức thu, chi và quản lý quỹ BHXH nói chung nhằm đảm bảo được tính kinh tế và tính xã hội của BHXH.Khi nước ta tiến hành cải cách kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN thì chính sách BHXH theo cơ chế này không còn phù hợp đòi hỏi phải có sự đổi mới BHXH Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới.

1.2.Từ sau Nghị định 43/CP/1993 đến nay.

Nhằm phù hợp với điều kiện đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và khắc phục dần các nhược điểm còn tồn tại trong việc thực hiện các chính sách BHXH. Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đổi các chính sách BHXH mà sự thay đổi đầu tiên bắt đầu từ nghị định 43/CP ra ngày 22/6/1993. Tiếp đó một sự thay đổi lớn đó là sự ra đời của Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ra ngày 26/1/1995.

Cùng với sự thay đổi này thì việc thu, chi quản lý quỹ BHXH cũng được thay đổi theo. Theo điều lệ BHXH hiện hành: Quỹ BHXHViệt Nam được hình thành từ các nguồn sau đây:

  • Người sử dụng lao động đóng góp bằng 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị, trong đó 10% để chi cho chế độ hưu trí, tử tuất, 5% chi cho các chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản.
  • NgườiLĐ đóng góp bằng 5% tiền lương để chi cho chế độ hưu trí và tử tuất.
  • Nhà nước hỗ trợ thêm.
  • Các nguồn thu khác (các cá nhân, tổ chức từ thiện giúp đỡ lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

Quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích.

  • Chi quản lý hành chính sự nghiệp
  • Chi trợ cấp cho các chế độ

Hiện nay quỹ BHXH Việt Nam thực hiện chi cho 5 chế độ: ốm đau; thai sản; tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất.Chế độ mất sức lao động đã bị loại bỏ.

Việc quản lý quỹ theo điều lệ BHXH hiện hành thống nhất giao cho hệ thống BHXH Việt Nam thuộc Bộ Lao động thương binh xã hội. Với sự thay đổi này việc thu chi và quản lý quỹ đã được tiến hành một cách ổn định, giảm bớt sự chồng chéo, gánh nặng về BHXH cho ngân sách nhà nước cũng ngày một giảm đi, đời sống của người lao động cũng được ổn định hơn và an toàn xã hội được đảm bảo.

2.      Tình hình thu – chi quỹ BHXH thời gian qua.

2.1.     Tình hình thu BHXH.

Theo chương XII Bộ Lao động và điều lệ BHXH ban hành kèm theo nghị định  12/CP ngày 26/1/1995 thì sự thay đổi về BHXH nhìn chung được thể hiện qua các mặt.

  • BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng mới được hưởng.
  • Thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước.
  • Thành lập cơ quan chuyên trách về BHXH (BHXH Việt Nam).

Trên cơ sở nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng các chế độ BHXH đã đặt ra yêu cầu rất quyết định đối với công tác thu nộp BHXH vì nếu không thu được BHXH  thì quỹ BHXH không có quỹ BHXH hạch toán độc lập để giảm bớt gánh nặng bao cấp của ngân sách nhà nước. Thấm nhuần nguyên tắc ngay từ khi mới thành lập, BHXH Việt Nam đã rất coi trọng công tác thu, luôn đặt công tác thu ở vị trí hàng đầu.

Căn cứ theo Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 quy định việc đóng góp BHXH đối với người sử dụng lao động là 17% tổng quỹ lương của doanh nghiệp, người lao động đóng góp 7% tiền lương (có hiệu lực từ ngày 1/1/2012).

Người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp BHXH cho cơ quan BHXH địa phương. Tiền lương làm căn cứ đóng góp là lương theo ngạch bậc, chức vụ thâm niên, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có).

Trong những năm qua mặc dù ngành BHXH còn gặp nhiều khó khăn như điều kiện vật chất, điều kiện làm việc, công việc còn mới mẻ… song công tác thu BHXH đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Nếu so sánh kết quả thu BHXH với thời điểm trước khi BHXH Việt Nam được thành lập thì kết quả thu BHXH trong những năm qua cho chúng ta thấy: Việc hoàn thiện hệ thống các văn bản quy định làm tiền đề cho công tác thu BHXH rất được quan tâm, chú trọng.

khoản thu từ đóng góp của người lao động năm 2009 tăng so với năm 2008 (từ 63.656,940 tỷ đổng lên 74.880,656 tỷ đồng, tăng hơn 17,63% so với năm 2008). Điều này cho thấy người lao động đã tích cực tham gia hơn trong việc đóng góp nộp quỹ BHXH, một phần người lao động có ý thức trách nhiệm hơn về quyền lợi khi tham gia BHXH và góp phần vào giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH.

Tuy nhiên tình trạng nộp thiếu, nộp chậm, nợ đọng quỹ BHXH của số lao động tham gia BHXH trong các đơn vị đã đăng ký nộp BHXH, trong đó có một số không ít các doanh nghiệp nhà nước còn nợ BHXH với một số tiền lớn làm ảnh hưởng đến nguồn thu quỹ BHXH.

Năm 2009, khoản nợ đóng góp cho BHXH tuy có giảm so với năm 2008 nhưng khoản nợ chiếm nhiều nhất vẫn là doanh nghiệp có vốn nước ngoài và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Điều này cho thấy trên thực tế 2 loại hình doanh nghiệp này ít quan tâm đến quyền lợi của người lao động, mặt khác do tình hình khó khăn trong việc duy trì hoạt động khi thị trường thiếu ổn định nên việc cắt giảm nguồn BHXH để giảm bớt áp lực cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó,doanh nghiệp nhà nước cũng đứng thứ 3 trong việc nợ BHXH, cho thấy một số DN với 100% vốn nhà nước vẫn cắt giảm việc đóng góp BHXH cho lao động thay vào đó lại dùng số vốn đó cho việc hoạt động của doanh nghiệp.

2.2     Tình hình chi BHXH.

Cùng với sự tiến bộ về mọi mặt trong hoạt động BHXH nói chung, công tác quản lý thu BHXH nói riêng thì công tác quản lý chi BHXH trong thời gian qua cũng có nhiều biến đổi tích cực về nhiều mặt.

Trong những năm qua BHXH Việt Nam luôn coi trọng việc đổi mới quy trình, thủ tục hồ sơ xét hưởng chế độ BHXH công việc này là một trong những khâu cải cách hành chính nhằm đem lại sự phục vụ thuận lợi nhất cho đơn vị sử dụng lao động và người lao động. Trước đây việc giải quyết ốm đau thường kéo dài từ một đến hai tháng vì cần nhiều loại giấy tờ làm căn cứ để trả trợ cấp. Đến nay toàn ngành thực hiện trong thời hạn từ 5 đến 25 ngày được hầu hết các đơn vị sử dụng lao động hoan nghênh.

Cùng với việc giải quyết các chế độ BHXH thì việc tổ chức chi trả lương hưu và các trợ cấp BHXH cũng được tiến hành một cách nhanh chóng và hiệu quả. Công tác tổ chức đem tiền đến trả cho đối tượng kịp thời, đầy đủ, thuận tiện luôn là mục tiêu phấn đấu của BHXH Việt Nam để trên cơ sở đó nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng kiến nghị của đối tượng về giải quyết chính sách, chế độ BHXH có đúng và kịp thời không? Việc tiếp cận trực tiếp với người lao động cũng giúp cơ quan BHXH quản lý đối tượng tốt hơn xác thực hơn, đồng thời tạo điều kiện cho công tác tuyên truyền mở rộng đối tượng cho công tác tham gia BHXH ngày càng nhiều hơn, tác động tích cực đến công tác thu BHXH.