Thực trạng tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

Thực trạng tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam được đánh giá từ 2 giác độ: (i) cách tổng hợp đến các chỉ tiêu tăng trưởng và đại diện là GDP, (ii) góp phần trực tiếp tạo nên GDP thông qua nguồn vốn đầu tư vào tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Nhìn chung, thời kỳ 1993-2016 là thời kỳ nền kinh tế Việt Nam có thu nhập quốc dân tăng và thu hút được nguồn vốn ODA từ các nước viện trợ ngày càng nhiều hơn. Đối với một nước nghèo, đang phát triển như Việt Nam, nguồn vốn ODA có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Mặc dù còn nhiều vấn đề đặt ra trong khi phân tích, đánh giá vai trò của nguồn vốn ODA đối với nền kinh tế Việt Nam nhưng không thể phủ nhận tác động tích cực của nguồn vốn này trong quá trình phát triển kinh tế vừa qua ở Việt Nam. Hình 2.7 cho thấy hình ảnh biến động xu hướng cùng chiều của hai chỉ tiêu này.

Đóng góp trực tiếp vào tổng vốn đầu tư toàn xã hội từ đó góp phần vào tăng GDP, nguồn vốn ODA đã và đang trực tiếp góp phần tạo nên các hiệu ứng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra thu nhập quốc dân. Kết luận này phù hợp với các báo cáo trong hội thảo tổng kết đánh giá 20 năm huy động và sử dụng ODA của Việt Nam năm 2015.

Kết quả huy động vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 1996-2016 ở hình 2.8 cho thấy, tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội từ sau khủng hoảng 1998-1999 đến năm 2007 có xu hướng tăng nhưng từ năm 2008 bắt đầu có xu hướng giảm. Nguyên nhân được cho là do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đã tác động làm cho vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh, đồng thời cơ hội tiếp cận các nguồn vốn ODA và vay ưu đãi bị hạn chế khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình thấp kể từ năm 2009. Có thể nhận thấy xu hướng biến động vốn ODA tương đối cùng chiều với biến động của tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn 1996-2016, điều này là hợp lý vì nguồn vốn ODA là một trong những nguồn vốn quan trọng trong cơ cấu tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Thực tế tại Việt Nam trong những năm gần đây vốn ODA giảm mạnh thì vốn đầu tư toàn xã hội cũng có xu hướng giảm theo, điều này là phù hợp khi nguồn thu từ ngân sách Nhà nước có xu hướng giảm, nguồn vốn huy động từ ODA và FDI cũng có xu  hướng giảm đã kéo theo tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giảm theo. Khi vốn đầu tư toàn xã hội giảm sẽ không tạo ra đủ nguồn lực cần thiết để tăng trưởng kinh tế vì vốn là một trong những yếu tố cơ bản tạo ra động lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Điều này được thể hiện rõ nét qua số liệu thực tế về tăng trưởng kinh tế và vốn đầu tư toàn xã hội tại Việt Nam trong giai đoạn 1996-2016. Cụ thể, giai đoạn 1998-2007 vốn đầu tư toàn xã hội có xu hướng tăng thì đồng thời tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cũng có xu hướng tăng và ổn định đều qua các năm, giai đoạn 2008-2013 cho thấy tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội giảm thì tốc độ tăng trưởng GDP cũng có xu hướng giảm. Từ năm 2014 đến nay, vốn đầu tư toàn xã hội và tăng trưởng kinh tế đều cùng nhau có diễn biến tăng nhẹ. Như vậy, vốn đầu tư toàn xã hội và tăng trưởng kinh tế có biến động cùng chiều với nhau một cách rõ nét, vốn đầu tư toàn xã hội là nguồn vốn tạo ra động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là nguồn vốn cần thiết trong cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội, vì vậy nguồn vốn ODA có tác động tích cực đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, đặc biệt với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì nguồn vốn ODA có tác động đáng kể, là nguồn vốn bổ sung quan trọng và cần thiết vào tổng vốn đầu tư toàn xã hội góp phần vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hình 2.8 mô tả mối quan hệ biến động có xu hướng cùng chiều theo thời gian giữa ba chỉ tiêu tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội, tốc độ tăng trưởng kinh tế và biến động vốn ODA giải ngân tại Việt Nam.