Thực trạng tác động tín dụng của ngân hàng CSXH Việt Nam đối với người nghèo

Định hướng của chính phủ đối với giảm nghèo

Kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo qua các giai đoạn đã góp phần không chỉ để Đảng, chính phủ hoàn thành nhiệm vụ chính trị quốc gia mà còn góp phần để Việt Nam hoàn thành các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc và kết quả này được các tổ chức quốc tế, các quốc gia công nhận và đánh giá cao. Qua các giai đoạn thực hiện chương trình giảm nghèo, cuộc sống của người dân nói chung và người nghèo nói riêng không ngừng được nâng cao và họ có thể tiếp cận, hưởng thụ phúc lợi xã hội một cách thuận lợi, khoảng cách chênh lệch giàu – nghèo giữa các vùng miền, giữa thành thị và nông thôn đã giảm đáng kể, cơ sở hạ tầng thiết yếu không ngừng được cải thiện, … Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả nổi bật đó thì tỷ lệ hộ nghèo ở một số địa phương vẫn còn cao đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào DTTS sinh sống; có nhiều hộ gia đình qua nhiều năm được hỗ trợ vẫn chưa thể thoát nghèo và cũng có nhiều hộ gia đình mặc dù thoát nghèo theo chuẩn nhưng sau đó lại tái nghèo, nhiều hộ đã thoát nghèo nhưng thu nhập vẫn bấp bênh và chưa tạo khoảng cách an toàn so với chuẩn nghèo, đời sống của nhiều hộ gia đình nghèo nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, … do đó tính bền vững của chương trình giảm nghèo chưa cao vì vậy ngày 19/5/2011, chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020 với những nội dung chủ yếu là:

Mục tiêu tổng quát: “Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của chiến lược phát triển KT-XH 2011 – 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào DTTS; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư”.

Mục tiêu cụ thể: “(1) Thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo tăng lên 3,5 lần; tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 2%/năm, riêng các huyện, xã nghèo giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn; (2) Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là về y tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở; người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; (3) Cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội ở các huyện nghèo; xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như: giao thông, điện, nước sinh hoạt”.

Các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, dự án sử dụng vốn trái phiếu chính phủ, vốn ODA và các chương trình khác phải tập trung hoạt động và nguồn lực ưu tiên đầu tư trước cho các huyện nghèo, xã nghèo để đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo ở các địa bàn này”.

Chính phủ cũng đã xác định để đạt được các mục tiêu này phải thực hiện đồng bộ nhiều chính sách, giải pháp khác nhau, trong đó chú trọng các chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo tiếp cận các nguồn vốn tín dụng nhà nước gắn với việc dạy nghề, tập huấn khuyến nông – công, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất; đẩy mạnh thực hiện các giải pháp có hiệu quả trong đó nâng cao chất lượng, hiệu quả TDUĐ đối với hộ nghèo nhất là hộ có người khuyết tật, chủ hộ là phụ nữ và chính sách TDUĐ đối với học sinh sinh viên nhất là sinh viên nghèo.

Từ định hướng của chính phủ đối với giảm nghèo, ngân hàng CSXH Việt Nam, các tổ chức CT-XH và chính quyền địa phương các cấp đã đẩy mạnh việc cung ứng vốn đến người nghèo và các ĐTCS khác trong thời gian qua. Tác động tín dụng của ngân hàng CSXH Việt Nam đối với người nghèo trong giai đoạn 2011-2015 là:

Tác động tín dụng ngân hàng CSXH Việt Nam đối với người nghèo

Trong giai đoạn 2011-2016, thông qua việc ủy thác cho các tổ chức CT-XH, ngân hàng CSXH đã thực hiện cung ứng vốn đến hơn 7,2 triệu lượt hộ nghèo và các ĐTCS khác với tổng số tiền là 239.958 tỷ đồng và kết quả cung ứng vốn này đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam từ 14,20% vào đầu năm 2011 xuống còn 4,25% vào cuối năm 2015, tương ứng với trên 2,1 triệu hộ nghèo được giảm và từ 9,88% vào năm 2015 xuống còn 8,23% vào năm 2016 (theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều). Chi tiết giảm tỷ lệ hộ nghèo qua các năm trong giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2015- 2016 được thể hiện trong Bảng 4.6 và Bảng 4.7.

Kết quả giảm tỷ lệ hộ nghèo trong giai đoạn 2011-2015 và 2015-2016 cho thấy rằng đồng vốn tín dụng của ngân hàng CSXH đã giúp nhiều người nghèo gia tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống và vươn lên thoát nghèo. Bên cạnh đó, kết quả khảo sát đối với 1.994 hộ gia đình vay vốn ngân hàng CSXH thì có 1.958/1.994 hộ xác nhận gia tăng thu nhập sau 1 năm vay vốn, 1.986/1.994 hộ xác nhận gia tăng thu nhập sau 2 năm vay vốn và 1.993/1.994 hộ xác nhận gia tăng thu nhập sau 3 năm vay vốn.

Đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay (trả nợ vay đúng hạn) của người nghèo

Hiện nay, với phương thức ủy thác cho các tổ chức CT-XH trong công tác cho vay và quản lý vốn TDUĐ thì việc sử dụng vốn của người nghèo được các tổ chức CT–XH, tổ tiết kiệm và vay vốn giám sát thường xuyên, quản lý chặt chẽ nhằm để người nghèo sử dụng vốn đúng mục đích và hỗ trợ tháo gỡ khó khăn trong quá trình sử dụng vốn từ đó mà nguồn vốn tín dụng của ngân hàng CSXH không ngừng phát huy hiệu quả và người nghèo thực hiện trả nợ vay đúng hạn cho ngân hàng.

Trong giai đoạn 2011-2016, tỷ lệ giữa doanh số thu nợ trên dư nợ của ngân hàng CSXH bình quân năm là 22,2% cho thấy kết quả thu hồi nợ của ngân hàng CSXH đạt cao và người vay đã trả nợ đúng hạn cho ngân hàng. Tỷ lệ giữa doanh số thu nợ trên dư nợ của ngân hàng CSXH được thể hiện trong Bảng 4.8.Bên cạnh đó, kết quả khảo sát đối với 1.994 hộ gia đình vay vốn của ngân hàng CSXH cho thấy có 1.458 hộ xác nhận trả nợ vay đúng hạn cho ngân hàng CSXH.