Thực trạng thương mại quốc tế của Việt Nam

Hoạt động thương mại quốc tế diễn ra trong thập kỉ 21 này dược so sánh là có những khác biệt rất lớn so với 2 thập kỉ về trước.Các doanh nghiệp hiện nay đang phải đối mặt  với nhiều vấn đề khác nhau và chịu sức ép của cạnh tranh. Hội nhập kinh tế quốc tế là thách thức với mọi nền kinh tế, kể cả các nền kinh tế có trình độ phát triển cao hơn Việt Nam. Thách thức này càng khắc nghiệt hơn khi chúng ta là một nước đang phát triển đồng thời là nền kinh tế chuyển đổi

Tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam chịu ảnh hưởng tích cực của quá trình hội nhập. Thương mại và đầu tư ở Việt Nam đã phát triển từ cơ chế tương đối hạn chế sang cơ chế mở như hiện nay. Những kết quả đạt được về mặt kinh tế là rất ấn tượng:

• Tỷ trọng xuất khẩu (và nhập khẩu) trong nền kinh tế tăng gấp 10 lần từ 1988 đến 2008

• Thu nhập đầu người tăng từ $130 vào đầu thập kỷ 90 lên   $800 vào 2008; và

• Tỷ lệ nghèo đói giảm đáng kể từ 58% năm 1993 xuống 13% năm 2008

Thương mại Việt Nam trong thời gian qua đã có những bước tiến rất đáng khích lệ. Người tiêu dùng có thể thỏa mãn nhu cầu thông qua các “kênh” với nhiều “cấp độ” khác nhau: 40% qua chợ, 44% qua các cửa hàng độc lập và cửa hàng của doanh nghiệp, 16% qua hệ thống phân phối hiện đại (trung tâm thương mại, siêu thị). Từ chỗ chỉ xuất hiện ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, đến nay cả nước có trên 200 siêu thị, 50 trung tâm thương mại, gần 1.000 cửa hàng

Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng (KNXK) hóa được xếp vào mức cao nhất khu vực, chỉ đứng sau Trung Quốc. Từ chỗ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng thu nhập quốc dân 24% năm 1991, đến năm 2007 xuất khẩu đã chiếm 64,9 % – đứng thứ 5 so với các nước trong khu vực Đông – Nam Á, thứ 6 ở châu Á, thứ 8 trên thế giới. Nếu như tổng KNXK của Việt Nam năm 2000 chỉ đạt xấp xỉ 14,5 tỉ USD thì năm 2007 đã tăng gấp 2,7 lần đạt trên 39 tỉ USD, đứng thứ 6/11 trong khu vực Đông – Nam Á, 39/165 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới; KNXK hàng hóa bình quân đầu người gấp 2,5 lần so với năm 2000, tăng 20,7% so với năm 2005, đứng thứ 6 trong khu vực, thứ 25 ở châu Á, thứ 92 trên thế giới.
Tỷ trọng KNXK vào thị trường châu Mỹ tăng đều trong 3 năm qua, từ 21,3% năm 2004 tăng lên 23,2% năm 2007. Thị trường Hoa Kỳ vẫn là đối tác chính của Việt Nam về xuất khẩu với kim ngạch 8 tỉ USD, chiếm tỷ trọng 86,8%, các nước khác chỉ chiếm 13,2% trong tổng KNXK hàng hóa sang thị trường châu Mỹ.Trong khi đó, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn đối với xuất khẩu giày dép nhưng thị trường châu Âu vẫn duy trì được tỷ trọng 19% – 20% trong tổng KNXK của cả nước từ năm 2004 đến nay. Các nước EU chiếm tỷ trọng 89,2% KNXK hàng hóa sang thị trường châu Âu (6,81 tỉ USD), tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2005.

Trong năm 2010, có 18 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD (Năm 2009 có 12 mặt hàng), trong đó kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng chủ lực tăng cao so với năm 2009 như: Hàng dệt may đạt 11,2 tỷ USD, tăng 23,2%; giày dép đạt 5,1 tỷ USD, tăng 24,9%; thủy sản 4,9 tỷ USD, tăng 16,5%; hàng điện tử máy tính 3,6 tỷ USD, tăng 28,8%; gỗ và sản phẩm gỗ 3,4 tỷ USD, tăng 31,2%; gạo đạt 3,2 tỷ USD, tăng 20,6; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng 3 tỷ USD, tăng 48%; cao su 2,4 tỷ USD, tăng 93,7%.

Nhìn chung xuất khẩu hàng hóa năm 2010 có nhiều thuận lợi do đơn giá nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới tăng cao, trong đó giá sắn và sản phẩm sắn tăng 90,7%; cao su tăng 81%; hạt tiêu tăng 39,7%; hạt điều tăng 22,4%; than đá tăng 52,9%; dầu thô tăng 33,7%). Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2010 ước tính đạt 64,5 tỷ USD, tăng 13,4% so với năm 2009.Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2010 có sự thay đổi ở một số nhóm hàng so với năm trước, trong đó nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 42,8% lên 46%; nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 29,4% xuống 27,2%; nhóm hàng thủy sản giảm từ 7,4% xuống 6,9%; vàng và các sản phẩm vàng giảm từ 4,6% xuống 4%.

Tính chung năm 2010, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 84 tỷ USD, tăng 20,1% so với năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 47,5 tỷ USD, tăng 8,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 36,5 tỷ USD, tăng 39,9%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao là: Xăng dầu tăng 225,2%; lúa mỳ tăng 70,4%; kim loại thường khác tăng 57,7%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép tăng 36%; chất dẻo tăng 33,9%; điện tử máy tính và linh kiện tăng 30,7%; vải tăng 27,2%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu tăng 22,4%; sắt thép tăng 15%. Nhập khẩu ôtô nguyên chiếc giảm 24,4% về kim ngạch và giảm 34,1% về lượng so với năm 2009.

Trong năm 2011, có 14 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ USD[2] là: Dệt may 14 tỷ USD, tăng 25,1% so với năm 2010; dầu thô 7,2 tỷ USD, tăng 45,9%; điện thoại các loại và linh kiện 6,9 tỷ USD, tăng 197,3%; giày dép 6,5 tỷ USD, tăng 27,3%; thủy sản 6,1 tỷ USD, tăng 21,7%; điện tử máy tính 4,2 tỷ USD, tăng 16,9% ; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng 4,1 tỷ USD, tăng 34,5%; gỗ và sản phẩm gỗ 3,9 tỷ USD, tăng 13,7%; gạo 3,6 tỷ USD, tăng 12,2%; cao su 3,2 tỷ USD, tăng 35%; cà phê 2,7 tỷ USD, tăng 48,1%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm gần 2,7 tỷ USD, giảm 5,2%; phương tiện vận tải và phụ tùng 2,4 tỷ USD, tăng 51,3%; xăng dầu 2,1 tỷ USD, tăng 53,6%.
Cơ cấu kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2011 không có sự thay đổi lớn so với năm 2010, trong đó nhóm tư liệu sản xuất vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất với 90,6%, tăng 0,6 điểm phần trăm so với năm 2010; nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng giảm từ 8,8% năm 2010 xuống còn 7,6%; nhóm vàng và các sản phẩm vàng tăng từ 1,2% lên 1,8%.
Theo kế hoạch xuất nhập khẩu năm 2012, Bộ đặt mục tiêu nhập siêu khoảng 13 tỷ USD, bằng khoảng 12% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong đó, xuất khẩu tăng 13% so với năm 2011 và đạt khoảng 108,5 tỷ USD. Nhập khẩu khoảng 121,5 tỷ USD, tăng 14,6% so với năm 2011.
Về định hướng giai đoạn 2011 – 2015, mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu bình quân 12,1%/năm, phấn đấu đến năm 2015 đạt 133 tỷ USD. Kim ngạch nhập khẩu tăng khoảng 11,5%/năm, dự kiến khoảng 146 tỷ USD vào năm 2015. Như vậy, nhập siêu năm 2015 khoảng 9,8% kim ngạch xuất khẩu.
Trong đó, với nhập khẩu các mặt hàng cần thiết, Bộ Công thương lưu ý nhập khẩu thiết bị máy móc, xăng dầu vẫn tăng do nhu cầu phát triển sản xuất và đầu tư mặc dù đã có sản phẩm của nhà máy lọc dầu Dung Quất (dự báo nhu cầu xăng dầu đến 2015 khoảng 22 – 23 triệu tấn).
Bên cạnh đó, một số mặt hàng sẽ giảm nhập như thép, phân bón… do đưa vào sản xuất một số dự án mới.