Thực trạng tổ chức hệ thống hóa và xử lý thông tin kế toán quản trị

Phân loại chi phí sản xuất

Để phục vụ cho yêu cầu cung cấp thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cho các nhà quản trị và cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài, các doanh nghiệp tiến hành phân loại chi phí theo các tiêu thức khác nhau tùy theo từng đặc trưng của doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Hóa chất, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại, nhiều khoản mục khác nhau về nội dung, tính chất, công dụng nên yêu cầu quản lý từng loại chi phí khác nhau. Theo kết quả khảo sát tại các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Hóa chất, chi phí sản xuất được phân loại theo các tiêu thức: phân loại chi phí theo nội dung, công dụng kinh tế và phân loại chi phí theo yếu tố chi phí.

+ Phân loại chi phí theo nội dung, công dụng chi phí:

Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất được chia thành các yếu tố chi phí:

* Chi phí nguyên vật liệu là chi phí thực tế về vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phù tùng thay thế dùng cho sản xuất trong kì như cao su, nhựa, dầu, than…

* Chi phí nhân công bao gồm chi phí tiền lương, phụ cấp, thưởng và các khoản trích theo lương của công nhân.

* Chi phí khấu hao tài sản cố định bao gồm chi phí khấu hao nhà xưởng, máy móc dùng cho sản xuất.

* Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm chi phí dịch vụ mua ngoài như chi phí điện nước, sửa chữa… phục vụ cho sản xuất sản phẩm.

* Chi phí khác bằng tiền: là chi phí chi trực tiếp bằng tiền dùng cho quản lý và sản xuất sản phẩm.

Phân loại chi phí theo nội dung, công dụng chi phí có ưu điểm đơn giản, dễ tổng hợp. Tuy nhiên, việc doanh nghiệp phân loại nội dung, công dụng chủ yếu phục vụ mục đích lập Báo cáo sản xuất kinh doanh theo yếu tố trên “Thuyết minh báo cáo tài chính” chứ chưa phục vụ cho việc phân tích, lập dự toán và tham mưu cho các nhà quản trị.

+ Phân loại chi phí theo mục đích, công dụng chi phí:

Theo cách phân loại chi phí theo nội dung, công dụng chi phí thì chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Hóa chất chia ra thành các khoản mục:

* Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Chi phí thực tế về vật liệu chính, vạt liệu phụ, nhiên liệu cấu thành sản phẩm hóa chất. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là một trong ba yếu tố cấu chi phí cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn trong doanh nghiệp. giá trị thực tế vật liệu xuất kho dùng cho sản xuất trong các doanh nghiệp được khảo sát được tính theo phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ. Hàng tồn kho được kế toán theo phương pháp kê khai thường xuyên. Theo kết quả khảo sát tại các doanh nghiệp sản xuất thuộc Tập đoàn Hóa chất thì các doanh ngiệp tiến hành mở sổ chi tiết theo dõi khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo từng đối tượng. Việc mở sổ chi tiết giúp doanh nghiệp quản lý, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho nhà quản trị.

* Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm toàn bộ tiền lương, tiền công, phụ cấp và các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất trực tiếp.

* Chi phí sản xuất chung: Gồm toàn bộ chi phí phát sinh tại phân xưởng: lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao tài sản cố định dùng cho sản suất và chi phí khác. Theo kết quả khảo sát, chi phí sản xuất chung chiếm 3% – 5% tổng chi phí sản xuất. Tuy nhiên, việc vận dụng các tiêu thức phân bổ gián tiếp của một số công ty còn hạn chế như tiêu thức phân bổ chưa xác đáng, các khoản chi phí tập hợp theo khoản mục rồi mới phân bổ, điều đó dẫn đến độ chính xác chi phí khi phản ánh cho các đối tượng là chưa cao.

Việc phân loại chi phí theo cách này giúp doanh nghiệp theo dõi chi phí phát sinh theo khoản mục từ đó đối chiếu định mức để có biện pháp quản lý nhằm tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm.

Ngoài ra, các doanh nghiệp chưa vận dụng tiêu thức phân loại chi phí thành biến phí và định phí để phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận. Điều này hạn chế rất nhiều đến việc cung cấp thông tin cho nhà quản trị .

Nguyên nhân các doanh nghiệp sản xuất thuộc Tập đoàn Hóa chất  chưa quan tâm đến phân loại chi phí theo ứng xử chi phí do kế toán tập trung quá nhiều vào phục vụ công tác KTTC, trình độ hạn chế của nhân viên kế toán hoặc nhà quản trị chưa yêu cầu cung cấp thông tin.

Thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành

          Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành

– Xuất phát từ đặc điểm công nghệ sản xuất sản phẩm trong các doanh nghiệp thường là quy trình sản xuất liên tục, khép kín nên nơi phát sinh chi phí là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm. Tuỳ từng doanh nghiệp, tuỳ từng loại chi phí theo từng phân xưởng, từng giai đoạn chế biến hay từng loại sản phẩm.

– Đối tượng tính giá thành là sản phẩm, công việc hoàn thành, theo kết quả khảo sát có 100% số doanh nghiệp được khảo sát lựa chọn đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm sản xuất.

Kỳ giá thành tại các doanh nghiệp thì 90% lựa chọn kỳ giá thành theo tháng, 10% lựa chọn kỳ giá thành theo quý (Phụ lục 1.2).

 Phương pháp tập hợp chi phí

Sảm phẩm của các doanh nghiệp sản xuất thuộc Tập đoàn Hóa chất được chia thành các nhóm sau:

  • Nhóm sản phẩm phân bón
  • Nhóm sản phẩm cao su
  • Nhóm sản phẩm hóa chất cơ bản, chất tẩy rửa
  • Nhóm sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật
  • Nhóm sản phẩm điện hóa
  • Nhóm sản phẩm sơn và chất dẻo
  • Nhóm sản phẩm từ công nghệ hóa dầu
  • Nhóm sản phẩm từ khai thác mỏ

Các doanh nghiệp này có quy trình sản xuất vừa song song, vừa liên tục, Các sản phẩm chủ yếu sản xuất hàng loạt. Do đó, căn cứ đặc điểm tổ chức sản xuất và yêu cầu, khả năng, trình độ quản lý của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Hóa chất xác định đối tượng tập hợp chi phí là các phân xưởng sản xuất (sản phẩm sản xuất hàng loạt) hoặc giai đoạn chế biến (sản phẩm quy trình sản xuất phức tạp).

Bộ máy kế toán các doanh nghiệp sản xuất thuộc Tập đoàn Hóa chất đa phần đều được tổ chức theo mô hình tập trung nên để tập hợp chi phí sản xuất, kế toán căn cứ phiếu xuất kho nguyên vật liệu, bảng chấm công, bảng tính lương, bảng phân bổ khấu hao và các hóa đơn dịch vụ để tập hợp chi phí theo các nội dung kinh tế. Về phương pháp tập hợp chi phí 100% doanh nghiệp sản xuất thuộc Tập đoàn Hóa chất lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp(Phụ lục 1.2).

Qua khảo sát các doanh nghiệp sản xuất thuộc Tập đoàn Hóa chất cho thấy, 70% các doanh nghiệp được khảo sát tập hợp chi phí theo từng phân xưởng (Các doanh nghiệp sản xuất công ty pin ắc quy Hà Nội, Công ty phân bón Miền Nam, Công ty Cao su Sao Vàng…) 13% số doanh nghiệp khảo sát tập hợp chi phí theo từng giai đoạn chế biến (Công ty Hóa chất Việt Trì, Công ty Thuốc trùng Việt Nam…), số còn lại tập hợp chi phí theo từng loại sản phẩm (Phụ lục 1.2).

Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang

Do nguyên vật liệu chiếm tỉ trọng lớn trong các doanh nghiệp sản xuất thuộc Tập đoàn Hóa chất như Công ty phân bón Miền Nam, Công ty phân bón Bình Điền, Công ty Xà phòng Hà Nội… đều sử dụng phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Theo phương pháp này, giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ tính cho chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, còn các chi phhí khác được tính vào giá thành sản phẩm hoàn thành. Các công ty như Công ty Hóa chất Việt Trì, Cao su Sao Vàng… tiến hành đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo mức độ hoàn thành tương đương.

Việc xác định số lượng và giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ tại các doanh nghiệp không chỉ dựa vài số liệu trên sổ sách mà còn kết hợp kết quả kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang thực tế tại phân xưởng, kế toán căn cứ vào số liệu trên sổ sách và biên bản kiểm kê để xác định giá trị sản phẩm dở dang, từ đó làm cơ sở tính giá thành sản phẩm (Phụ lục 2.4)

Thực trạng tính giá thành sản phẩm

Theo kết quả khảo sát các doanh nghiệp sản xuất thuôc Tập đoàn Hóa chất có 47% doanh nghiệp lựa chọn phương pháp tính giá thành theo phương pháp giản đơn, 33% doanh nghiệp lựa chọn phương pháp tính giá thành theo tỉ lệ, còn lại lựa chọn phương pháp tính giá thành giá thành theo hệ số. Điều này hoàn toàn phù hợp đặc điểm sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp.

Đối với doanh nghiệp tính giá thành theo phương pháp giản đơn (Nhóm doanh nghiệp sản xuất mặt hàng như pin, phân bón, phân đạm, cao su). Nhóm doanh nghiệp này có quy trình công nghệ sản xuất giản đơn, khép kín từ khi đưa nguyên liệu vào đến khi sản xuất hoàn thành, số lượng mặt hàng ít, khối lượng sản xuất lớn, có chu kỳ ngắn.

Sau khi tính toán từng khoản mục chi phí cho các loại sản phẩm hoàn thành, kế toán tiến hành lập bảng tính giá thành cho từng loại sản phẩm. (Phụ lục 2.6 )

Đối với doanh nghiệp tính giá thành theo phương pháp tỉ lệ (Nhóm doanh nghiệp sản xuất mặt hàng như quy hàn, hoa chất, mỏ). Nhóm doanh nghiệp này có quy trình sản xuất khép kín, sản phẩm hoàn thành sản xuất ra các sản phẩm có quy cách phẩm chất khác nhau.

Chi phí sản xuất chung được tập hợp và phân bổ theo sản lượng. Kế toán tập hợp chi phí cho từng loại sản phẩm. Căn cứ giá thành kế hoạch, kế toán xác định tỉ lệ chi phí thực tế từng loại sản phẩm (Phụ lục 2.6 )

Đối với doanh nghiệp tính giá thành theo phương pháp hệ số (Nhóm doanh nghiệp sản xuất mặt hàng như xà phòng, bột giặt, sản phẩm dầu mỏ).  Chi phí sản xuất được tập hợp theo chi phí trực tiếp, chi phí trực tiếp bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Căn cứ tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là phiếu xuất kho vật liệu chính, vật liệu phụ, chi phí nhân công trực tiếp được tính căn cứ đơn giá tiền lương và phiếu báo sản phẩm hoàn thành.