Thực trạng tổ chức hệ thống hóa và xử lý thông tin về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Thực trạng tổ chức tài khoản kế toán

Theo kết quả khảo sát, hiện nay, tất cả các doanh nghiệp sản xuất thuộc Tập đoàn Hóa chất đều vận dụng tài khoản kế toán theo hệ thống tài khoản quy định tại thông tư 200/2014/TT-BTC. Các tài khoản đều được lựa chọn, xây dựng nội dung và phương pháp ghi chép cụ thể trên cơ sở hệ thống tài khoản do nhà nước ban hành.

Do các doanh nghiệp sản xuất thuộc Tập đoàn Hóa chất xây dựng mô hình kế toán tài chính và kế toán quản trị trên cùng hệ thống tài khoản nên các tài khoản sử dụng cho cả kế toán tài chính về kế toán quản trị dựa trên hệ thống tài khoản và mở chi tiết theo yêu cầu quản trị của doanh nghiệp.

Theo kết quả khảo sát, số doanh nghiệp tập hợp chi phí sản xuất theo phân xưởng sản xuất chiếm 70%, các doanh nhiệp tập hợp chi phí sản xuất theo giai đoạn sản xuất chiếm 13,3%, số còn lại tập hợp chi phí sản xuất theo từng loại sản phẩm. Trên cơ sở đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, các doanh nghiệp tiến hành xây dựng hệ thống tài khoản chi phí sản xuất phù hợp. Việc xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất giúp doanh nghiệp quản lý chi phí sản xuất tốt và tính giá thành sản phẩm đúng đắn, kịp thời.

Đối với các tài khoản chi phí sản xuất, các doanh nghiệp mở như sau:

  • TK 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
  • TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp
  • TK 627: Chi phí sản xuất chung
  • TK 154: Chi hí sản xuất kinh doanh dở dang

TK 621, TK 622,TK 627, TK 154 được mở chi tiết thành các tài khoản cấp 2, cấp 3,4 theo từng bộ phận sản xuất, từng giai đoạn và mức độ chi tiết tùy thuộc vào yêu cầu kế toán quản trị của từng doanh nghiệp.

Tuy nhiên, với từng doanh nghiệp có đặc điểm sản xuất, quy trình công nghệ khác nhau nên áp dụng đối tượng tập hợp chi phí là không giống nhau, do vậy việc tổ chức tài khoản chi tiết cũng khác nhau.Chẳng hạn, tại công ty cao su Sao Vàng, đối tượng tập hợp chi phí là từng giai đoạn công nghệ sản xuất sản phẩm, nên các tài khoản tập hợp chi phí sẽ được mở chi tiết theo từng giai đoạn.

Tại công ty cổ phần Pin Hà Nội, đối tượng tập hợp chi phí là các phân xưởng (kể cả phân xưởng sản xuất chính và phụ trợ), nên các tài khoản kế toán tập hợp chi phí được mở chi tiết cho từng phân xưởng, sau đó mới chi tiết theo từng sản phẩm.(Phụ lục 2.2)

          * Thực trạng tổ chức hệ thống sổ kế toán

Với ưu điểm ghi sổ theo hình thức kế toán máy nên phần lớn các doanh nghiệp sản xuất thuộc Tập đoàn Hóa chất ghi theo hình thức này. Theo kết quả khảo sát thì có đến 87% số doanh nghiệp được khảo sát sử dụng hình thức kế toán máy trong đó 73% số doanh nghiệp khảo sát in sổ sách theo hình thức nhật ký chung, còn lại sổ sách được in theo hình thức nhật ký chứng từ (Phụ lục 1.2).

Do hầu hết các doanh nghiệp đều sử dụng phần mềm kế toán nên việc xây dựng, thiết kế quy trình ghi chép đều được thực hiện theo phần mềm kế toán. Doanh nghiệp áp dụng hình thức nhật kí chung thì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được phản ánh trên sổ nhật kí chung và sổ cái, sổ chi tiết các TK 621, TK 622, TK 627 và TK 154. Doanh nghiệp áp dụng hình thức nhật kí chứng từ thì chi phí sản xuất và giá thành sẽ được phản ánh trên NKCT số 7, bảng kê số 4 và sổ cái các TK 621, TK 622, TK 627 và TK 154. (Phụ lục 2.3)

Cũng theo kết quả khảo sát thì tất cả các doanh nghiệp tiến hành mở sổ chi tiết cho các đối tượng liên quan, nhằm cung cấp số liệu cho việc giá thành sản phẩm và làm cơ sở tập chi phí theo từng khoản mục hoặc yếu tố chi phí để cung cấp thông tin cần thiết cho nhà quản lí và phục vụ quản trị kinh doanh ở doanh nghiệp.